Khơi thông dòng vốn, giảm áp lực chi phí cho doanh nghiệp

Với mặt bằng lãi suất cho vay trên 10%/năm, chi phí vốn có thể bào mòn đáng kể lợi nhuận, nhất là đối với những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có biên lợi nhuận thấp và thời gian thu hồi vốn kéo dài.

Trong bối cảnh nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao, khả năng tiếp cận vốn với chi phí hợp lý trở thành một trong những điều kiện quan trọng quyết định sức cạnh tranh và năng lực mở rộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Máy là hơi tự động trị giá hơn 1,3 tỷ đồng – một trong những thiết bị hiện đại nhất của Xí nghiệp Veston Hưng Hà (thuộc Tổng công ty May 10, xã Hưng Hà) đang được công nhân vận hành. Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN

Máy là hơi tự động trị giá hơn 1,3 tỷ đồng – một trong những thiết bị hiện đại nhất của Xí nghiệp Veston Hưng Hà (thuộc Tổng công ty May 10, xã Hưng Hà) đang được công nhân vận hành. Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN

Chi phí vốn cao

Ông Trần Thành Trọng, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Sáng Ban Mai cho biết: Doanh nghiệp đạt doanh thu hằng năm khoảng 200–250 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu khoảng 1 triệu USD và có chưa đến 100 nhân sự. Hoạt động sản xuất, lắp ráp máy phát điện công suất lớn đòi hỏi doanh nghiệp nhập khẩu thiết bị, tổ chức sản xuất và triển khai lắp đặt tại công trình. Thời gian thực hiện một dự án ngắn nhất cũng khoảng sáu tháng, trong khi nhiều công trình kéo dài vài năm.

Đặc thù này khiến nhu cầu vốn không dừng ở khâu sản xuất mà kéo dài suốt quá trình thực hiện hợp đồng. Doanh nghiệp phải duy trì nguồn tiền cho đến khi công trình hoàn thành và được thanh toán, trong khi chi phí lãi vay vẫn phát sinh. Với biên lợi nhuận gộp khoảng 15–17%, biến động của lãi suất có thể tác động trực tiếp đến hiệu quả của mỗi dự án.

“Nếu lãi suất vay vốn vượt 10%/năm, doanh nghiệp gần như không còn lợi nhuận sau khi tính toán các chi phí liên quan. Vì vậy, chúng tôi mong muốn lãi suất cho vay giảm xuống dưới 10%/năm để doanh nghiệp có điều kiện duy trì sản xuất và mở rộng hoạt động”, ông Trọng chia sẻ.

Không chỉ doanh nghiệp sản xuất, các chủ đầu tư nhà ở xã hội cũng chịu áp lực từ chi phí vốn cao, ảnh hưởng đến khả năng triển khai dự án và kiểm soát giá bán.

Ông Lê Thanh Phương, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Bất động sản Seaholdings cho hay: Theo quy định hiện hành, lợi nhuận định mức của chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội tối đa là 10% tổng chi phí đầu tư xây dựng. Quy định này nhằm góp phần bảo đảm giá nhà phù hợp với khả năng chi trả của người dân. Tuy nhiên, chi phí lãi vay vẫn là một cấu phần trong tổng mức đầu tư. Nếu phải vay vốn với lãi suất tương đương các dự án bất động sản thương mại, chi phí tài chính sẽ gia tăng, gây áp lực lên hiệu quả đầu tư và khả năng giữ giá bán nhà ở xã hội ở mức hợp lý.

Vì vậy, đại diện Seaholdings kiến nghị cơ quan quản lý và ngành ngân hàng xem xét có gói tín dụng ưu đãi dành riêng cho các chủ đầu tư triển khai dự án nhà ở xã hội. Nếu doanh nghiệp được tiếp cận nguồn vốn với lãi suất phù hợp, chi phí đầu tư sẽ được kiểm soát tốt hơn, qua đó góp phần giảm giá thành và tạo điều kiện để người dân có nhu cầu thực sự mua được nhà.

Từ câu chuyện chi phí vốn, khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng là vấn đề đáng chú ý. Dù chiếm tỷ trọng áp đảo về số lượng, nhóm doanh nghiệp này vẫn tiếp cận một phần tương đối nhỏ trong tổng dư nợ tín dụng ngân hàng.

Theo ông Lê Như Thạch, Phó Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp TP Hồ Chí Minh, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp nhưng chỉ tiếp cận khoảng 20% dư nợ tín dụng ngân hàng. Trong khi đó, lãi suất cho vay phổ biến ở mức 10–12%/năm và khoảng 93,5% khoản vay yêu cầu tài sản bảo đảm. Trong khi đó, một số dự án lớn của các tập đoàn được hưởng cơ chế ưu đãi về tín dụng. Sự chênh lệch này đặt ra yêu cầu xem xét khả năng tiếp cận vốn của khu vực doanh nghiệp tư nhân, nhất là khi nền kinh tế cần huy động thêm nguồn lực để phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao. Với số lượng chiếm áp đảo trong cộng đồng doanh nghiệp, khu vực nhỏ và vừa cần được tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn phù hợp để duy trì hoạt động, mở rộng đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, giảm lãi suất mới chỉ giải quyết một phần bài toán vốn. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng vay được vốn còn phụ thuộc vào tài sản bảo đảm, hồ sơ pháp lý và mức độ minh bạch của thông tin tài chính.

Ông Đặng Văn Điềm, đại diện Liên đoàn Doanh nghiệp tỉnh Đồng Nai cho biết, nhiều doanh nghiệp có nhu cầu bổ sung vốn lưu động, mở rộng sản xuất nhưng chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện tín dụng, đặc biệt là yêu cầu về tài sản bảo đảm, hồ sơ tài chính và chứng minh dòng tiền. Ngay cả khi có phương án kinh doanh khả thi, doanh nghiệp vẫn có thể gặp khó nếu thiếu tài sản thế chấp hoặc chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý. Trong khi đó, bất động sản vốn là một loại tài sản bảo đảm phổ biến, nhưng biến động giá và những vướng mắc trong xác định giá trị tài sản có thể ảnh hưởng đến khả năng vay vốn.

Chưa kể, nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn khi hoàn thiện hồ sơ pháp lý đất đai, nhà xưởng, thủ tục xây dựng, phòng cháy, chữa cháy và môi trường. Đối với doanh nghiệp thuê đất trả tiền hằng năm, việc xác định tài sản đủ điều kiện thế chấp và hoàn thiện hồ sơ liên quan cũng có thể kéo dài quá trình thẩm định khoản vay.

Đồng bộ giải pháp

Từ những vướng mắc thực tế của doanh nghiệp, bài toán khơi thông dòng vốn đòi hỏi giải pháp đồng bộ, từ giảm chi phí vay, tháo gỡ điều kiện tín dụng đến đa dạng hóa các kênh huy động vốn. Tại Hội nghị “Ngành ngân hàng đồng hành khơi thông nguồn lực tài chính – ngân hàng phục vụ tăng trưởng vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2026–2030” do Ngân hàng Nhà nước phối hợp với UBND TP Hồ Chí Minh tổ chức mới đây, ông Phạm Đức Ấn, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh: Cơ quan điều hành tiếp tục bám sát diễn biến thị trường, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, phối hợp với chính sách tài khóa nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.

Về lãi suất, Thống đốc Phạm Đức Ấn cho biết, Ngân hàng Nhà nước phải cân nhắc hài hòa nhiều mục tiêu. Lãi suất quá cao sẽ làm tăng chi phí vốn, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Ngược lại, lãi suất cần bảo đảm lợi ích hợp lý cho người gửi tiền, duy trì sức hấp dẫn của kênh tiền gửi ngân hàng và tạo nền tảng ổn định cho hệ thống tài chính.

Trong bối cảnh một số ngân hàng trung ương trên thế giới có động thái tăng lãi suất, việc điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam càng cần được tính toán thận trọng, phù hợp với điều kiện trong nước và diễn biến quốc tế.

Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng nỗ lực giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời triển khai các giải pháp điều hành phù hợp với tình hình thực tế. Việc giảm lãi suất cần được thực hiện trên cơ sở cân đối nguồn vốn, bảo đảm an toàn hệ thống và duy trì ổn định thị trường tiền tệ.

Song song đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục sử dụng linh hoạt các công cụ điều hành, trong đó có nghiệp vụ thị trường mở, nhằm hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế và hạn chế những biến động bất lợi trên thị trường.

Theo Thống đốc Phạm Đức Ấn, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam hiện ở mức cao so với nhiều quốc gia có quy mô và trình độ phát triển tương đồng. Trong điều kiện đó, nền kinh tế cần phát triển đa dạng các kênh huy động vốn, thay vì phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Vì vậy, doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm và kết hợp các nguồn vốn phù hợp, bao gồm vốn tín dụng ngân hàng, vốn chủ sở hữu, phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các hình thức huy động vốn hợp pháp khác.

Liên quan đến vấn đề tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại diện Ngân hàng Nhà nước cho rằng các ngân hàng cũng có nhu cầu đẩy mạnh cho vay, bởi hoạt động cốt lõi của ngân hàng là huy động vốn để cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, ngân hàng phải kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn nguồn vốn và khả năng thu hồi nợ. Vì vậy, tài sản bảo đảm vẫn là một yếu tố cần xem xét trong quá trình thẩm định tín dụng, nhưng không phải mục tiêu cuối cùng của hoạt động cho vay.

“Điều quan trọng là doanh nghiệp cần nâng cao hiệu quả hoạt động, minh bạch tình hình tài chính và dòng tiền. Việc xây dựng báo cáo tài chính trung thực, nhất quán, phản ánh đúng tình hình sản xuất, kinh doanh sẽ giúp ngân hàng đánh giá chính xác hơn năng lực tài chính, khả năng trả nợ và mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp”, Thống đốc Phạm Đức Ấn chia sẻ.

Ở chiều ngược lại, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các ngân hàng cần tiếp tục cải tiến quy trình, đơn giản hóa hồ sơ và đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động tín dụng. Việc ứng dụng công nghệ vào tiếp nhận, xử lý và phê duyệt hồ sơ có thể góp phần rút ngắn thời gian giải quyết, giảm chi phí cho cả ngân hàng và doanh nghiệp.

Trong giai đoạn tới, nền kinh tế được dự báo sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Vì vậy, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng cần tập trung nguồn lực cho hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả; xây dựng các chương trình, sản phẩm cho vay với lãi suất phù hợp; đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hứa Chung/TTXVN

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/khoi-thong-dong-von-giam-ap-luc-chi-phi-cho-doanh-nghiep-post1397066.html