Khơi thông nguồn lực cho hộ kinh doanh: Chính sách cần đồng bộ, tương xứng và khả thi
Hộ kinh doanh là bộ phận quan trọng của kinh tế tư nhân, tạo việc làm cho khoảng 10 triệu lao động và đóng vai trò đáng kể trong lưu thông hàng hóa, cung ứng dịch vụ, kích cầu tiêu dùng nội địa. Tuy nhiên, “sức khỏe” của hàng triệu hộ kinh doanh có dấu hiệu suy giảm, đòi hỏi cấp thiết việc khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn và xây dựng chính sách hỗ trợ đồng bộ, khả thi.
Còn nhiều rào cản
Theo khảo sát của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), hoạt động của hộ kinh doanh không chỉ phủ rộng từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa mà còn là kênh phân phối quan trọng của nhiều doanh nghiệp, tập đoàn.
Tại Hội thảo “Hộ kinh doanh và động lực tăng trưởng” do VCCI tổ chức ngày 21-8, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI, ví hộ kinh doanh như “hệ thống dẫn máu” của nền kinh tế. Khi khu vực này gặp khó khăn, doanh thu bán lẻ của nhiều doanh nghiệp lớn cũng chịu tác động.
Có tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn nhưng khảo sát của VCCI thực hiện tháng 4/2026 với hơn 1.000 hộ kinh doanh tại ba thành phố lớn cho thấy, 81,5% hộ ghi nhận doanh thu sụt giảm, đồng thời có tới 33% dự kiến thu hẹp quy mô hoặc tạm ngừng hoạt động, trong khi chỉ 1,8% có kế hoạch mở rộng. VCCI cũng chỉ ra suy giảm sức mua, cạnh tranh từ siêu thị, thương mại điện tử, hàng nhập khẩu cùng những thay đổi trong quản lý thuế… đang tạo thêm áp lực lên hoạt động của các hộ kinh doanh.

Xã Hoài Đức phối hợp với các đơn vị liên quan hướng dẫn cài đặt, kích hoạt tài khoản, tạo mã QR và hỗ trợ các hộ kinh doanh sử dụng thành thạo các ứng dụng thanh toán điện tử. Ảnh: Thảo Nguyên
Không chỉ đối mặt với bài toán thị trường, nhiều hộ kinh doanh còn gặp khó khi thích ứng với hệ thống quy định ngày càng đa dạng. Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, qua tiếp xúc với các hộ kinh doanh tại chợ, hiệp hội ngành nghề, hộ nhỏ lẻ, đại lý thuế và đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán, có thể thấy phần lớn hộ không có tâm lý né tránh nghĩa vụ thuế. Ngược lại, họ mong muốn tuân thủ đầy đủ và được ghi nhận là những người kinh doanh có trách nhiệm. Vướng mắc chủ yếu nằm ở hệ thống quy định còn phức tạp, phân tán, khiến nhiều hộ lúng túng trong việc xác định quy định nào áp dụng và phải thực hiện ra sao cho đúng.
Từ thực tế kinh doanh, anh Phạm Anh Quyết, chủ một hộ kinh doanh tạp hóa tại Hà Nội, cho rằng khó khăn không chỉ đến từ các quy định về thuế, hóa đơn, kế toán mà còn từ những chính sách mới trong các lĩnh vực khác. Đơn cử, dự thảo liên quan đến phòng, chống tác hại của thuốc lá đang đề xuất cấm trưng bày sản phẩm tại điểm bán. Với các cửa hàng tạp hóa nhỏ, nơi diện tích kinh doanh và nơi lưu trữ hàng hóa thường được bố trí chung, nếu quy định được áp dụng sẽ đòi hỏi người bán phải thay đổi cách sắp xếp, lưu giữ sản phẩm và phục vụ khách hàng.
“Chúng tôi hy vọng thay vì cấm hoàn toàn, có thể chỉ cấm trưng bày bên ngoài, còn bên trong cửa hàng vẫn được bố trí phù hợp. Như vậy sẽ dễ thực hiện hơn”, anh Phạm Anh Quyết chia sẻ.
Từ những thay đổi chính sách như trên, các hộ kinh doanh cũng đề nghị có lộ trình chuyển đổi đủ dài để chủ động thích ứng. Theo đó, với những quy định mới, đặc biệt là các yêu cầu liên quan trực tiếp đến cách thức kinh doanh, cần có khoảng thời gian hợp lý, có thể từ 18-24 tháng, để người kinh doanh tìm hiểu, điều chỉnh mô hình và chuẩn bị các điều kiện cần thiết. Cùng với thời gian chuyển tiếp, các cơ quan quản lý cần có hướng dẫn cụ thể, dễ hiểu, sát với thực tế để hạn chế tình trạng hộ kinh doanh chưa kịp nắm quy định, chưa kịp thay đổi đã đứng trước nguy cơ vi phạm.
Chính sách cần đồng bộ, khả thi
Trước những khó khăn mà hộ kinh doanh đang phải đối mặt, ông Đậu Anh Tuấn cho rằng, chính sách cần được thiết kế theo hướng phù hợp hơn với đặc thù của khu vực này. Lấy ví dụ ngay từ những băn khoăn của hộ kinh doanh, theo ông Đậu Anh Tuấn, thuốc lá là ngành hàng đặc thù, việc cấm quảng bá trên các nền tảng truyền thông là hợp lý. Tuy nhiên, nếu cấm cả trưng bày tại điểm bán sẽ tạo thêm thách thức cho các hộ kinh doanh nhỏ, bởi đây là phương thức tiếp cận khách hàng phổ biến tại các cửa hàng truyền thống.
Đáng lưu ý, một quy định như vậy không chỉ tác động đến doanh nghiệp mà còn liên quan tới hàng triệu điểm bán phân tán trên toàn quốc, phần lớn là cửa hàng tạp hóa, hộ kinh doanh cá thể, quầy hàng và điểm bán truyền thống. Chính vì thế, chính sách nếu chỉ đúng về mục tiêu nhưng thiếu tính khả thi trong thực tế sẽ dễ làm gia tăng chi phí tuân thủ và tạo thêm áp lực cho khu vực vốn đang gặp nhiều khó khăn.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, về dài hạn cần tiếp tục hoàn thiện cấu trúc chính sách để tạo động lực thực chất hơn cho hộ kinh doanh. Trong đó, cần nghiên cứu ngưỡng doanh thu áp dụng phương pháp tính thuế theo thu nhập theo hướng phù hợp với tiêu chí doanh nghiệp siêu nhỏ; xây dựng cơ chế chuyển tiếp hợp lý thay vì thay đổi đột ngột theo năm tính thuế; đồng thời tránh phát sinh nghĩa vụ trùng lặp đối với hoạt động thương mại điện tử.

Quang cảnh hội thảo “Hộ kinh doanh và động lực tăng trưởng” do VCCI tổ chức ngày 21-8. Ảnh: Thảo Nguyên
Bên cạnh đó, bà Nguyễn Thị Thu Hà đề xuất có giai đoạn chuyển tiếp “mềm”, ưu tiên hướng dẫn và hỗ trợ khắc phục trước khi xử phạt; nghiên cứu các hình thức hỗ trợ, giảm nhẹ phù hợp để hộ kinh doanh có thêm nguồn lực trang trải chi phí tuân thủ trong giai đoạn chuyển đổi. Đối với những hộ có doanh thu trên 1 tỷ đồng/năm, cần nghiên cứu cách tính thuế theo hướng chỉ đánh thuế phần doanh thu vượt ngưỡng, qua đó hạn chế “cú sốc” chính sách khi hộ kinh doanh mở rộng quy mô.
Ở một khía cạnh khác, chính sách thuế đối với hộ kinh doanh cũng đang có những điều chỉnh theo hướng tạo thêm dư địa phát triển. Theo đại diện VCCI, sau khi ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế được nâng lên, Chính phủ tiếp tục trình đề xuất giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu không quá 10 tỷ đồng.
Ông Đậu Anh Tuấn đánh giá đây là những quyết định nhanh và kịp thời, đồng thời cho rằng cần nhìn các thay đổi này trong tiến trình chuyển đổi phương thức quản lý hộ kinh doanh theo hướng công khai, minh bạch hơn. Muốn quá trình chuyển đổi diễn ra thuận lợi, chính sách không chỉ cần rõ ràng mà còn phải đơn giản, sát nhu cầu và tạo động lực để người kinh doanh chủ động tuân thủ.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, việc giảm nghĩa vụ thuế chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi phần nguồn lực được giải phóng không tiếp tục bị “bào mòn” bởi những chi phí phát sinh ở các khâu khác. Nếu chính sách thuế tạo thêm dư địa tài chính, thì môi trường chính sách nói chung cũng cần đồng bộ để nguồn lực này được chuyển hóa thành đầu tư, sản xuất và mở rộng kinh doanh, thay vì phát sinh thêm dưới dạng chi phí thủ tục, chi phí tuân thủ hoặc các khoản đầu tư bắt buộc để đáp ứng yêu cầu quản lý.
