Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế -Bài cuối: Cần gắn với liêm chính và trách nhiệm
Đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế. Để phát huy nguồn lực này, tổ chức Đảng cần khuyến khích làm giàu chính đáng, đồng thời kiểm soát xung đột lợi ích. Mỗi đảng viên phải giữ liêm chính, nêu gương và thực hiện đầy đủ trách nhiệm.
Làm giàu chính đáng, đóng góp bằng năng lực thực chất
Tại hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIV mới đây, ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho biết sau 20 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW, số đảng viên làm kinh tế tư nhân tăng từ hơn 35.000 người năm 2006 lên khoảng 187.000 người năm 2026. Tuy nhiên, tỷ lệ này mới chiếm 3,31% tổng số đảng viên.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương giới thiệu chuyên đề “Về Quy định số 224-QĐ/TW, ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh”. Ảnh: Phương Hoa /TTXVN
Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, quy định trước đây chủ yếu tập trung vào đảng viên ngoài khu vực công; quyền, giới hạn và trách nhiệm theo vị trí công tác chưa được phân định đầy đủ. Quy định số 224-QĐ/TW chuyển cách tiếp cận sang khuyến khích, tạo điều kiện để đảng viên phát huy năng lực, nguồn lực hợp pháp, làm giàu chính đáng và đóng góp cho đất nước.
Điểm mới còn ở việc phân biệt những hoạt động được làm, được làm có điều kiện và không được làm, gắn với kiểm soát xung đột lợi ích. Đảng viên có cơ sở lựa chọn hình thức tham gia phù hợp; tổ chức Đảng có căn cứ hướng dẫn, quản lý, giám sát, hạn chế cách hiểu dè dặt hoặc áp dụng tùy nghi.
Ông Nguyễn Thanh Nghị cho rằng thay đổi này đặt ra yêu cầu cụ thể đối với khâu thực hiện. Quyền đầu tư, góp vốn, thành lập hoặc tham gia quản lý doanh nghiệp cần được giải thích theo từng nhóm đối tượng, tránh việc chủ trương khuyến khích nhưng khi triển khai lại phát sinh điều kiện khiến người có nhu cầu tiếp tục chờ đợi.
Mỗi nội dung hướng dẫn cũng cần xác định cơ quan phụ trách, thẩm quyền giải quyết và trách nhiệm trả lời. Những vấn đề cần sửa đổi pháp luật phải được thể chế hóa, thực hiện theo hiệu lực của văn bản tương ứng. Sự thống nhất giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước giúp cá nhân chủ động tham gia hoạt động kinh tế, cơ quan quản lý thực hiện đúng chức năng.
PGS. Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn cho rằng, ý nghĩa sâu sắc của Quy định số 224-QĐ/TW là đổi mới tư duy phát triển, khơi dậy khát vọng cống hiến và phát huy nguồn lực hợp pháp. Làm giàu bằng lao động, trí tuệ, sáng tạo cũng là một cách đóng góp cho xã hội. Khi không gian phát triển được mở rộng, chuẩn mực trách nhiệm và nghĩa vụ giải trình càng cần được coi trọng.
Theo ông Bùi Hoài Sơn, tư cách đảng viên không tạo đặc quyền trong tiếp cận đất đai, vốn, thông tin hay cơ hội đầu tư. Điều cần trân trọng là thành quả được tạo ra bằng năng lực thực chất, những việc làm được duy trì và giá trị mang lại cho cộng đồng. Uy tín doanh nghiệp được xây dựng từ việc chấp hành pháp luật, bảo đảm quyền lợi người lao động, bảo vệ môi trường và giữ cam kết với khách hàng, đối tác.
Từ đó, việc đánh giá đảng viên làm kinh tế cần xem xét đầy đủ quá trình hoạt động. Quy mô tài sản hay mức đóng góp tài chính chưa thể thay thế những tiêu chí về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm với người lao động. Cách đánh giá công bằng sẽ khuyến khích người kinh doanh giữ gìn uy tín trong từng quyết định, lựa chọn hướng phát triển bền vững.
Ông Bùi Hoài Sơn cho rằng, tổ chức Đảng cần khuyến khích những mô hình sản xuất, kinh doanh hiệu quả, góp phần xây dựng văn hóa kinh doanh liêm chính. Người có khát vọng, năng lực cần được tạo điều kiện phát huy; hành vi lợi dụng quan hệ, vị trí công tác hoặc quyền lực để thu lợi phải được nhận diện, ngăn chặn và xử lý.
Kiểm soát lợi ích, đánh giá bằng kết quả
Việc phát huy nguồn lực đảng viên cần được đặt trong mạch chính sách phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, nhấn mạnh bảo vệ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng.
Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, nhìn nhận cơ hội chính sách chỉ chuyển thành kết quả khi doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, công nghệ và tính minh bạch. Những điểm nghẽn về vốn, mặt bằng, thị trường vẫn cần được tháo gỡ để doanh nghiệp có điều kiện đầu tư dài hạn.
Theo ông Phòng, cần phát triển cách tiếp cận vốn dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh và dữ liệu tín dụng; mở rộng bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cơ quan chức năng cần công khai thông tin đất đai, đẩy nhanh giải quyết thủ tục, bảo đảm cơ hội tiếp cận thị trường bình đẳng. Những giải pháp này có ý nghĩa với cộng đồng doanh nghiệp nói chung, trong đó có doanh nghiệp do đảng viên làm chủ.
Sự hỗ trợ phải có tiêu chí rõ ràng, có thể theo dõi và đánh giá. Người đầu tư cần biết mình thuộc đối tượng nào, phải đáp ứng điều kiện gì và thời hạn giải quyết ra sao để chủ động tính toán nguồn lực, kế hoạch sản xuất.
Trung tướng Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, cho rằng hướng dẫn thống nhất về quyền, điều kiện và giới hạn của từng nhóm đảng viên là yêu cầu trước hết. Có căn cứ rõ ràng sẽ tránh tình trạng nơi áp dụng rộng, nơi lại đặt thêm thủ tục thiếu cơ sở.
Đi cùng với đó, kiểm soát xung đột lợi ích phải xem xét cả quyền chi phối, người có liên quan, lợi ích gián tiếp và khả năng sử dụng thông tin từ vị trí công tác. Ông Thuận lưu ý, nếu chỉ dựa vào người đứng tên, việc kiểm tra có thể bỏ sót chủ thể thực sự hưởng lợi. Khi phát sinh nguy cơ, đảng viên phải báo cáo để được xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
Theo ông Thuận, phát triển doanh nghiệp cần gắn với nâng năng lực quản trị, đổi mới công nghệ và trách nhiệm xã hội. Việc biểu dương phải dựa trên đóng góp thực chất, từ chất lượng việc làm, nghĩa vụ với Nhà nước đến trách nhiệm với người tiêu dùng, môi trường, qua đó lan tỏa những cách làm tốt.
Từ những ý kiến này, việc hướng dẫn cần có tình huống cụ thể để đảng viên nhận biết trường hợp của mình; hoạt động kiểm tra tập trung vào nguy cơ thực chất, đúng phạm vi, tránh yêu cầu cung cấp thông tin tùy tiện. Kết quả triển khai cũng cần được theo dõi qua những thay đổi có thể kiểm chứng: vướng mắc được giải quyết, thời gian thủ tục giảm, doanh nghiệp đổi mới công nghệ và việc làm được duy trì. Đây là cơ sở để cấp ủy nhận diện khâu còn chậm, xác định trách nhiệm và điều chỉnh cách thực hiện.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Về định hướng này, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu bảo vệ quyền kinh doanh hợp pháp, giúp đảng viên yên tâm phát huy năng lực. Chính sách hỗ trợ phải công khai, bình đẳng; tư cách đảng viên đặt ra yêu cầu nêu gương cao hơn, không mang lại ưu thế riêng trên thị trường.
Theo Tổng Bí thư, việc đánh giá phải xem xét nguồn gốc tài sản, cách tổ chức kinh doanh và trách nhiệm với người lao động. Đảng viên cần thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, tiền lương, bảo hiểm, an toàn lao động và bảo vệ môi trường. Hoạt động tài trợ, từ thiện không thể bù đắp cho vi phạm pháp luật hoặc thiếu sót trong thực hiện nghĩa vụ với người lao động.
Tổng Bí thư nhấn mạnh, khuyến khích phát triển phải gắn với kiểm soát xung đột lợi ích, giữ kỷ luật và lan tỏa văn hóa kinh doanh liêm chính. Quy định cần giúp tổ chức Đảng quản lý thực chất, củng cố niềm tin của doanh nghiệp, người dân vào sự công bằng của bộ máy, đồng thời huy động nguồn lực cho phát triển đất nước.
