Khơi thông nguồn lực, hiện thực hóa khát vọng quốc gia biển mạnh. Bài cuối: Đột phá từ những nền tảng căn cốt

Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đòi hỏi những đột phá đồng bộ, thực chất về thể chế, quy hoạch và quản trị nguồn lực… Đồng hành cùng tiến trình này, Kiểm toán nhà nước (KTNN) sẽ tập trung kiểm toán các nhiệm vụ trọng tâm về phát triển, kết cấu hạ tầng, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, góp phần nhận diện, tháo gỡ điểm nghẽn, bảo đảm nguồn lực được sử dụng hiệu quả, hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược về biển.

Khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh đòi hỏi những lựa chọn phát triển đúng tầm. Ảnh: Cảng Hải Phòng

Khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh đòi hỏi những lựa chọn phát triển đúng tầm. Ảnh: Cảng Hải Phòng

Thể chế phải “mở đường” cho không gian biển

Yêu cầu lớn nhất đặt ra trong hành trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chuyển hóa tiềm năng, lợi thế thành năng lực phát triển thực tế. Đây không đơn thuần là bài toán đầu tư thêm hạ tầng, mở rộng quy mô các ngành kinh tế biển mà trước hết là cần một hệ thống thể chế đủ đồng bộ để tổ chức, điều phối và phát huy hiệu quả các nguồn lực trên không gian biển.

Bởi vậy, Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh là đột phá chiến lược; đồng thời yêu cầu chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia.

PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam - phân tích, không gian biển có những đặc thù rất khác đất liền; một số ngành, nghề kinh tế biển mới có xu hướng phát triển nhanh, mạnh, cũng đòi hỏi khung pháp lý phải được cập nhật và hoàn thiện theo hướng hiện đại, tích hợp và thích ứng linh hoạt.

“Phải xem thể chế là động lực mở đường cho phát triển kinh tế biển đột phá và quản trị thống nhất không gian biển quốc gia. Luật pháp thời gian tới cần bổ sung, quy định rõ các nội dung về kinh tế biển xanh, kinh tế biển sâu… Đồng thời, đổi mới cơ chế, chính sách với độ mở thích hợp để phát triển thực chất các ngành/nghề kinh tế biển mới” - PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi đề xuất.

Từ góc độ địa phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Trọng Chánh kiến nghị, cần có cơ chế xử lý hiệu quả các khu vực chồng lấn về sử dụng không gian biển, bảo đảm hài hòa giữa phát triển các ngành kinh tế biển với bảo tồn hệ sinh thái và quốc phòng, an ninh. Cùng với đó, ưu tiên nguồn lực cho các công trình hạ tầng chiến lược có tính liên vùng, nhất là hệ thống giao thông kết nối, logistic và hạ tầng số; hoàn thiện các công cụ huy động nguồn lực dài hạn cho các dự án kinh tế biển…

Việc kiến tạo một hành lang pháp lý minh bạch, ổn định với những ưu đãi thật sự vượt trội được kỳ vọng sẽ tạo ra làn sóng đầu tư mới, đưa kinh tế biển trở thành động lực quan trọng giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong kỷ nguyên phát triển mới.

Nhằm tăng tốc hoàn thiện thể chế, Dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) với nhiều nội dung đột phá dự kiến được trình Quốc hội khóa XVI xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ Hai. “Đây được xem là bước đột phá, tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để khai thác hiệu quả tiềm năng biển trong giai đoạn mới” - Cục trưởng Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản cho biết.

Tổ chức lại không gian, định hình động lực phát triển

Tự chủ chiến lược biển cũng đòi hỏi đổi mới tư duy và nâng cao chất lượng quy hoạch không gian biển. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Chính phủ xác định đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, nhằm tạo đột phá cho phát triển. Đây là nền tảng để tổ chức các hoạt động phát triển trong một không gian biển thống nhất, nơi nhiều ngành kinh tế, lợi ích và yêu cầu quản lý cùng đan xen.

Theo các chuyên gia cũng như quan điểm của nhiều địa phương có biển, quy hoạch phải thực sự trở thành căn cứ cho các quyết định phát triển và đầu tư. Việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch cần hướng đến nhận diện rõ những không gian có lợi thế, các hành lang kết nối, những lĩnh vực cần ưu tiên… Từ đó, việc lựa chọn dự án, bố trí vốn, huy động đầu tư xã hội sẽ tập trung hơn, hạn chế tình trạng phát triển manh mún, chồng lấn, thiếu đồng bộ.

Từ thực tiễn kiểm toán, Kiểm toán trưởng KTNN khu vực XI Đoàn Huy Vinh nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm thống nhất giữa quy hoạch không gian biển, quy hoạch ngành, địa phương và các công trình hạ tầng liên quan; đồng thời làm rõ trách nhiệm, thẩm quyền và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý. “Hoàn thiện cơ chế không chỉ nhằm xử lý những bất cập trước mắt, mà về lâu dài cần thu hẹp các khoảng trống chính sách và phòng ngừa sai phạm, lãng phí có thể phát sinh trong tương lai” - Kiểm toán trưởng Đoàn Huy Vinh nhấn mạnh.

Trong khi đó, PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi cho rằng, quy hoạch phải dựa trên nền tảng dữ liệu biển đủ mạnh. Đặc biệt, mỗi quyết định phân bổ không gian biển cần được xem xét trong quan hệ tổng thể giữa lợi ích kinh tế, môi trường, xã hội, quốc phòng và an ninh.

Để nâng cao tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong phát triển kinh tế biển, KTNN không chỉ xem xét việc chi tiêu có đúng quy định hay không, mà còn đánh giá các nguồn lực đã được sử dụng tiết kiệm và tạo ra kết quả tối ưu, tương xứng hay chưa. Hiệu quả đầu tư được đặt trong mối liên hệ với toàn bộ vòng đời dự án, khả năng khai thác và vận hành sau đầu tư, mức độ đóng góp vào chuỗi giá trị, khả năng kết nối hạ tầng, tác động đến môi trường và sinh kế của người dân. Các kiến nghị cũng hướng đến việc lựa chọn đúng trọng tâm phát triển, có tính lan tỏa, tạo động lực cho cả vùng, thay vì đầu tư theo phong trào hoặc chỉ chú trọng quy mô vốn và tiến độ giải ngân.

Ông Đoàn Huy Vinh

Kiểm toán trưởng KTNN khu vực XI

Kiểm toán nhà nước đồng hành hiện thực hóa khát vọng quốc gia biển mạnh

Biển mang lại hiệu quả kinh tế lớn, lâu dài nhưng cũng đòi hỏi suất đầu tư lớn. Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt ra yêu cầu huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển quốc gia biển mạnh. Chương trình hành động của Chính phủ cũng xác định mục tiêu hoàn thiện cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực; đa dạng hóa các hình thức huy động vốn đầu tư; ưu tiên nguồn lực cho các lĩnh vực, địa bàn, dự án trọng điểm có sức lan tỏa lớn…

Trong tổng thể đó, KTNN cũng xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mình, đồng hành cùng cả hệ thống chính trị trong thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết số 20-NQ/TW. Cụ thể hóa nhiệm vụ này, Đảng ủy KTNN đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, Chương trình hành động của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Đảng ủy Quốc hội về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Kế hoạch xác định, KTNN sẽ tập trung lựa chọn, tổ chức kiểm toán các nhiệm vụ trọng tâm liên quan đến phát triển kinh tế biển, kết cấu hạ tầng biển, quản lý tài nguyên biển; bảo vệ môi trường biển… Đặc biệt, KTNN sẽ tăng cường tổng hợp, phân tích các phát hiện, kết luận, kiến nghị kiểm toán có tính hệ thống; kịp thời nhận diện những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu đồng bộ, khoảng trống quản lý, cơ chế phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả để kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Đồng thời, KTNN chú trọng các kiến nghị có giá trị phòng ngừa thất thoát, lãng phí; nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; góp phần hoàn thiện thể chế, chính sách về phát triển quốc gia biển mạnh.

Theo TS. Vũ Hải Đăng - Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao, KTNN đóng vai trò bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách cho các chương trình, dự án biển; phòng, chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng và sai phạm trong quản lý tài chính, tài sản công, nhất là đối với những lĩnh vực có quy mô đầu tư lớn. Đặc biệt, KTNN có thể cung cấp những kiến nghị chính sách có giá trị cho quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế biển.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP. Đà Nẵng Trần Nam Hưng cũng khẳng định, Đà Nẵng hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế biển lớn của cả nước và đô thị biển quốc tế. Trong hành trình đó, sự tham gia của KTNN có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm các nguồn lực được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với quy hoạch, chiến lược phát triển của Thành phố.

Khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh đòi hỏi những lựa chọn phát triển đúng tầm, bắt đầu từ năng lực giải quyết những bài toán căn cốt của phát triển: thể chế đủ mở, quy hoạch đủ tầm, nguồn lực được phân bổ đúng hướng và hiệu quả được kiểm chứng bằng thực tiễn. Khi những nền tảng ấy được thiết lập, Việt Nam mới có thể chuyển từ khai thác lợi thế biển sang làm chủ không gian phát triển biển, từng bước nâng cao vị thế quốc gia và tạo dựng những giá trị bền vững cho tương lai./.

NHÓM PV

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/khoi-thong-nguon-luc-hien-thuc-hoa-khat-vong-quoc-gia-bien-manh-bai-cuoi-dot-pha-tu-nhung-nen-tang-can-cot