Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế

Đại biểu Quốc hội nhấn mạnh quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế, yêu cầu kiểm soát ô nhiễm ngay từ quyết định đầu tư, không để doanh nghiệp chuyển chi phí môi trường sang cộng đồng.

Quốc hội Khóa XVI

Chiều 6/11, Quốc hội thảo luận tại hội trường về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Đại biểu Bùi Văn Dũng. Ảnh: QH

Đại biểu Bùi Văn Dũng. Ảnh: QH

Giảm phát thải để tăng trưởng bền vững

Góp ý cho dự thảo Luật, đại biểu Bùi Văn Dũng (Đoàn Thanh Hóa) nêu có dự án sinh lợi nhưng xã hội vẫn chịu thiệt nếu chi phí ô nhiễm bị chuyển sang người dân và ngân sách.

“Tôi tán thành sửa Luật Bảo vệ môi trường để ngăn sự chuyển dịch chi phí ấy ngay từ quyết định đầu tư” – đại biểu Dũng nhấn mạnh.

Thực tế, ô nhiễm nguồn nước, không khí, áp lực chất thải và hạ tầng xử lý chưa đồng bộ đang ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh kế của người dân cũng như khả năng thu hút đầu tư.

Muốn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số một cách bền vững thì phải nâng cao giá trị tạo ra trên mỗi đơn vị tài nguyên, giảm phát thải và chi phí khắc phục ô nhiễm.

Đại biểu Dũng đề nghị quán triệt quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế trên nền tảng đạo đức môi trường. Người hưởng lợi từ hoạt động đầu tư không được đẩy tổn thất sang cộng đồng; thế hệ hôm nay phải có trách nhiệm với điều kiện sống của các thế hệ mai sau.

Có những tổn hại đối với hệ sinh thái không thể khắc phục chỉ bằng việc trả tiền. Vì vậy, nghĩa vụ trả chi phí ô nhiễm không thể được hiểu là trả tiền để có quyền gây ô nhiễm.

Các đại biểu làm việc tại hội trường. Ảnh: QH

Các đại biểu làm việc tại hội trường. Ảnh: QH

Làm rõ điều kiện chuyển giao tín chỉ carbon

Từ đó, đại biểu Bùi Văn Dũng đề nghị cần bảo vệ nguồn nước ngay khi một thông số đã hết khả năng chịu tải. Dự thảo Luật hiện vẫn gắn điều kiện hạn chế xả thải với việc hết khả năng chịu tải đối với tất cả các thông số bắt buộc đánh giá.

Theo ông, dự thảo đã bổ sung nội dung quản lý tổng tải lượng và báo cáo giải trình phương pháp đánh giá từng thông số. Tuy nhiên, nguyên tắc quyết định cho phép xả thải trong trường hợp chỉ một thông số đã vượt ngưỡng chịu tải vẫn cần được làm rõ.

Đại biểu lấy ví dụ một đoạn sông đã quá tải tổng ni-tơ, khả năng tiếp nhận các chất ô nhiễm khác không làm giảm rủi ro do ni-tơ gây ra. Tương tự, nước thải có nồng độ chất ô nhiễm thấp nhưng nếu lưu lượng xả lớn vẫn có thể tạo ra tải lượng ô nhiễm đáng kể.

Do đó, không thể chỉ dựa vào nồng độ để kết luận hoạt động xả thải bảo đảm an toàn.

Đại biểu đề nghị cần bảo đảm an toàn nguồn cấp nước sinh hoạt, giao Chính phủ quy định cụ thể cách thức minh chứng và giám sát.

Một vấn đề khác, đại biểu Dũng nêu là bảo đảm quyền hưởng lợi hợp pháp từ hoạt động đầu tư giảm phát thải. Việc xác định tín chỉ carbon là hàng hóa giao dịch đã được đề cập, nhưng địa vị pháp lý của tín chỉ vẫn cần tiếp tục nghiên cứu.

Ông đề nghị đối chiếu với Điều 115 Bộ luật Dân sự về quyền tài sản, làm rõ quyền của chủ thể sở hữu tín chỉ carbon hợp lệ, điều kiện chuyển giao và hậu quả pháp lý khi tín chỉ bị thu hồi hoặc hủy bỏ.

Đại biểu cũng lưu ý không nên đồng nhất tín chỉ carbon với hạn ngạch phát thải bởi hai loại này có căn cứ hình thành khác nhau. Việc xác định rõ quyền và rủi ro pháp lý sẽ giúp doanh nghiệp tính toán đầu tư vào công nghệ sạch, đồng thời bảo đảm công bằng đối với những chủ thể bỏ vốn, công sức để tạo ra lợi ích môi trường.

Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh. Ảnh: QH

Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh. Ảnh: QH

Giám sát tổ chức trung gian thực hiện tái chế

Cũng tham gia góp ý dự thảo luật, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng) đồng tình với định hướng loại bỏ hình thức nhà sản xuất, nhập khẩu đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường để cơ quan quản lý nhà nước tổ chức tái chế thay doanh nghiệp.

Theo đại biểu, nghĩa vụ tái chế sản phẩm, bao bì thải bỏ phải do chính nhà sản xuất, nhập khẩu tổ chức thực hiện hoặc thuê, ủy quyền cho bên thứ ba thực hiện.

Tuy nhiên, để cơ chế này phát huy hiệu quả, cần hoàn thiện mô hình tổ chức thực hiện thông qua các tổ chức trung gian. Đây là chủ thể giữ vai trò tập hợp, điều phối và tổ chức thực hiện nghĩa vụ tái chế của doanh nghiệp.

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, đại biểu cho biết các tổ chức trung gian cần có đủ năng lực tài chính, nhân sự, hệ thống thu gom, tái chế; đồng thời phải chịu trách nhiệm báo cáo, chứng minh kết quả và hoàn thành mục tiêu tái chế do Nhà nước quy định.

Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo hoàn thiện tiêu chí thành lập tổ chức trung gian có đủ năng lực hoạt động trên phạm vi rộng; làm rõ trách nhiệm pháp lý giữa tổ chức trung gian và doanh nghiệp ủy quyền, nhất là trường hợp không hoàn thành nghĩa vụ tái chế.

Đồng thời, cần có cơ chế quản lý, theo dõi, giám sát hoạt động của các tổ chức này, bảo đảm việc ủy quyền không làm giảm trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Đối với Điều 55 về quản lý, sử dụng kinh phí hỗ trợ xử lý chất thải, đại biểu đồng tình với việc phân bổ nguồn kinh phí cho địa phương chủ động quản lý, sử dụng theo điều kiện thực tế.

Tuy nhiên, do đây là nguồn kinh phí hình thành từ trách nhiệm đóng góp tài chính của doanh nghiệp, không phải ngân sách nhà nước, nên cần quy định cụ thể, thống nhất về phạm vi và nội dung chi.

Đại biểu đề nghị bổ sung các nội dung hỗ trợ thu gom, phân loại, vận chuyển, tái chế và xử lý chất thải tại những khu vực chưa được thu gom triệt để; hỗ trợ nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ xử lý chất thải do Việt Nam phát triển; đồng thời đầu tư, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và trang thiết bị tại khu vực khó khăn, nông thôn, miền núi, hải đảo.

Theo đại biểu, việc quy định rõ nội dung chi sẽ giúp địa phương sử dụng nguồn kinh phí đúng mục đích, tránh chồng chéo nguồn lực và nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường.

Bùi Trang

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/khong-danh-doi-moi-truong-lay-tang-truong-kinh-te-post366545.html