Không để vốn ngân sách nằm chờ, dự án kéo dài
HNN.VN - Ngày 18/10, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại tổ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2026, kế hoạch năm 2027; ngân sách nhà nước, đầu tư công, quyết toán ngân sách năm 2025 và tổng kết thực hiện Nghị quyết số 66/2013/QH13 về đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh quy mô hai làn xe. Đoàn ĐBQH TP Huế tham gia thảo luận tại tổ 9 cùng Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình.

Toàn cảnh phiên thảo luận ở tổ 9. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp
Đầu tư công phải tạo giá trị thực
Đại biểu Nguyễn Hải Nam (Đoàn ĐBQH TP. Huế) cho rằng, đầu tư công cần phát huy vai trò dẫn dắt, thu hút nguồn lực tư nhân trong bối cảnh kinh tế chịu tác động từ biến động lãi suất, giá dầu và thị trường vốn quốc tế.
Theo đại biểu, hiệu quả đầu tư không thể chỉ đo bằng số vốn bố trí hay công trình hoàn thành, mà phải tính đến khả năng khai thác lâu dài, tính đồng bộ, tránh đầu tư dàn trải dẫn đến phải sửa chữa, nâng cấp nhiều lần.
Đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam cần nâng cao khả năng tiếp nhận, chuyển giao và làm chủ công nghệ, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Đại biểu cũng đề nghị nâng hiệu quả huy động khoảng 8,5 triệu tỉ đồng vốn đầu tư, cải thiện hệ số ICOR theo định hướng giảm từ 6,5 xuống 3,8, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực tăng năng suất.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần giảm gánh nặng tuân thủ pháp luật, cải thiện khả năng tiếp cận vốn và chuyển giao công nghệ. Đại biểu đồng thời đề nghị sớm xử lý tài sản công dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính, tránh để trụ sở, cơ sở vật chất bỏ không gây lãng phí.
Đại biểu Nguyễn Tiến Nam, Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP. Huế cho rằng, số chuyển nguồn ngân sách sang năm 2026 còn lớn, cho thấy một lượng nguồn lực chưa được đưa vào sử dụng kịp thời.
Theo đại biểu, cần nâng chất lượng lập dự toán, phân bổ và giải ngân; rà soát, điều chỉnh hoặc cắt giảm vốn tại các dự án manh mún, chậm tiến độ, ưu tiên công trình hạ tầng chiến lược có khả năng kết nối vùng và tạo động lực phát triển.
Liên quan đến kết quả kiểm toán, đại biểu cho biết, 195 văn bản quy phạm pháp luật đã được rà soát, sửa đổi hoặc bãi bỏ do có sơ hở, bất cập; trách nhiệm tập thể, cá nhân được yêu cầu kiểm điểm tại 51 báo cáo kiểm toán. Chính phủ cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, thẩm quyền và thời hạn khắc phục, tránh để sai sót kéo dài qua nhiều kỳ.
Đối với 18 quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, cần đánh giá hiệu quả thực chất, xem xét sáp nhập hoặc giải thể những quỹ hoạt động kém hiệu quả, trùng lặp chức năng. Về đường Hồ Chí Minh, đại biểu đề nghị làm rõ nguyên nhân các đoạn tuyến chưa hoàn thành, nhất là vướng mắc về mặt bằng, nguồn vốn và kết nối với mạng lưới cao tốc; đồng thời xây dựng kế hoạch vốn trung hạn để bảo đảm tính đồng bộ.

Đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Phó trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách TP. Huế tham gia thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Phó trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách TP. Huế nhấn mạnh, mỗi chỉ tiêu ngân sách phải gắn với số liệu có thể đối chiếu và trách nhiệm cụ thể. Theo đại biểu, một số bộ, ngành, địa phương có tỉ lệ giải ngân dưới 50%, chủ yếu do vướng giải phóng mặt bằng, thủ tục pháp lý, xử lý tài sản công và điều chỉnh vốn.
Không thể chỉ chạy theo tỉ lệ giải ngân, bởi việc dồn chi vào cuối năm có thể không bảo đảm khối lượng, chất lượng và hiệu quả công trình. Đại biểu đề nghị trong quý I/2027, Chính phủ giao Bộ Tài chính phối hợp các bộ, ngành, địa phương công khai danh mục dự án chậm tiến độ, xác định chủ đầu tư, số vốn còn lại, nguyên nhân, trách nhiệm người đứng đầu và thời hạn xử lý.
Minh bạch từng khoản chi ngân sách
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị Bộ Tài chính rà soát số liệu trong dự thảo nghị quyết phân bổ ngân sách trung ương năm 2027. Tổng chi ngân sách trung ương được ghi là 2.364.411 tỉ đồng, trong khi hai khoản cấu thành là 408.747 tỉ đồng và 1.955.663 tỉ đồng, cộng lại thành 2.364.410 tỉ đồng, chênh lệch 1 tỉ đồng.
Ngoài việc thống nhất số liệu giữa các điều khoản và phụ lục, cần làm rõ khoản bổ sung có mục tiêu 311.363 tỉ đồng cho ngân sách địa phương để tránh cộng trùng. Các mức dự phòng ngân sách 30.000 tỉ đồng và 69.000 tỉ đồng cũng cần được thuyết minh rõ phạm vi tính toán.
Với các quỹ ngoài ngân sách, đại biểu đề nghị công khai số dư đầu kỳ, tổng thu, tổng chi, các khoản điều chỉnh và số dư cuối kỳ. Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam có mức chi năm 2026 ước đạt 1.067,7 tỉ đồng, bằng 25,6% kế hoạch. Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam còn 2.768,4 tỉ đồng từ nguồn đóng góp theo cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất chưa giải ngân do thiếu cơ chế quản lý.

Đại biểu Võ Thanh Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế góp ý về tự chủ đại học. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp
Đại biểu đề nghị hoàn thiện cơ chế sử dụng khoản tiền này, đồng thời đánh giá hiệu quả các quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước, phát triển du lịch. Chậm nhất trong quý II/2027, cơ quan chủ quản của các quỹ có số dư lớn, giải ngân thấp kéo dài hoặc chi phí quản lý cao phải trình kế hoạch chấn chỉnh, xác định mục tiêu, tiến độ và trách nhiệm người đứng đầu.
Tham gia thảo luận, đại biểu Võ Thanh Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế nhận định, việc bố trí đủ 3% tổng chi ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thể hiện quyết tâm lớn. Tuy nhiên, nguồn lực phải được phân bổ đúng trọng tâm, giải ngân kịp thời và tạo ra năng lực nghiên cứu thực chất.
Trong các lĩnh vực phát triển nhanh như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, chậm đầu tư thiết bị có thể khiến công nghệ lạc hậu ngay khi đưa vào sử dụng. Vì vậy, hiệu quả không thể chỉ tính bằng tỉ lệ giải ngân hay số thiết bị mua sắm, mà phải được đánh giá qua năng lực nghiên cứu, khả năng làm chủ công nghệ và giá trị thực tế tạo ra.
Về tự chủ đại học, đại biểu cho rằng không thể đồng nhất tự chủ với tự bảo đảm toàn bộ kinh phí. Nhà nước cần có cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ và đầu tư có trọng tâm cho khoa học cơ bản, nhất là các ngành khó xã hội hóa như Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học.
Đại biểu cũng đề nghị xây dựng cơ chế tài trợ trung hạn 3 - 5 năm cho các ngành khoa học nền tảng và nhóm nghiên cứu chiến lược; tăng học bổng, hỗ trợ nghiên cứu, thu hút nhà khoa học trẻ và gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực.


