Không gian tăng trưởng giàu tiềm năng
Những khoảng trống của công nghiệp văn hóa nước nhà hiện nay không phải do thiếu tài nguyên văn hóa, mà thiếu những cơ chế đủ mạnh để biến tài nguyên thành sản phẩm và thị trường, tạo động lực tăng trưởng.

Lễ hội đền Kỳ Cùng tỉnh Lạng Sơn (Ảnh THANH HỒNG)
Với bản chất là ngành sáng tạo, công nghiệp văn hóa ít phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên. Đồng thời, sản phẩm thường mang giá trị gia tăng cao như một bộ phim, một thiết kế hay sản phẩm thủ công mỹ nghệ có thể được tái sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa rộng… Đây là loại hình kinh tế phù hợp xu hướng phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Những khoảng trống của công nghiệp văn hóa nước nhà hiện nay không phải do thiếu tài nguyên văn hóa, mà thiếu những cơ chế đủ mạnh để biến tài nguyên thành sản phẩm và thị trường, tạo động lực tăng trưởng.
Sức bật từ nền tảng chính sách
____
Tại Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9, khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, lần đầu tiên Đảng xác định tập trung phát triển công nghiệp văn hóa. Năm 2021, Đại hội XIII của Đảng chính thức coi công nghiệp văn hóa là một trụ cột phát triển kinh tế, ngang hàng với các ngành công nghiệp truyền thống. Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, chiến lược, khẳng định quyết tâm đưa văn hóa trở thành trụ cột phát triển bền vững.

Phụ nữ Dao đỏ trong trang phục truyền thống quây quần bên mâm cơm chay trong lễ cấp sắc tại xã Tả Phìn (Lào Cai) (Ảnh CAO KHẮC VIỆT)
Ngày 14/11/2025, Chính phủ ban hành Quyết định số 2486/ QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Mới đây, ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, mở ra bước chuyển quan trọng khi xác lập văn hóa là nguồn lực nội sinh, động lực tinh thần và sức mạnh mềm quốc gia; đặt ra những mục tiêu cụ thể cho công nghiệp văn hóa.
Có thể thấy, sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức về vai trò của công nghiệp văn hóa cùng chủ trương đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp văn hóa của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn, kịp thời; tạo động lực, sức mạnh nội sinh quan trọng để chuyển hóa văn hóa thành sức mạnh mềm, thúc đẩy quá trình phát triển đất nước nhanh và bền vững trên tất cả các lĩnh vực. 5 năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ.
Sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức về vai trò của công nghiệp văn hóa cùng chủ trương đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp văn hóa của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn, kịp thời.
Theo Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2021-2025 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đóng góp ước đạt bình quân 1,059 triệu tỷ đồng (44 tỷ USD). Tốc độ tăng trưởng số lượng cơ sở kinh tế đạt 7,2%/năm, lực lượng lao động tăng 7,4%/năm. Đây là minh chứng cho sự chuyển dịch từ nhận thức coi văn hóa chỉ là lĩnh vực bảo tồn sang xác định văn hóa là một trụ cột kinh tế - xã hội. Sáu lĩnh vực hiện chiếm hơn 70% doanh thu công nghiệp văn hóa gồm: Du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử, quảng cáo và thủ công mỹ nghệ.
Ấn tượng nhất là ngành du lịch văn hóa, với lượng khách quốc tế đến Việt Nam liên tục tăng. Trước thời điểm dịch Covid-19, năm 2019, Việt Nam đón hơn 18 triệu lượt khách quốc tế, trong đó hơn 60% tham gia các hoạt động gắn với văn hóa. Năm 2023 đón 12,6 triệu lượt; năm 2024 tăng lên 17,6 triệu lượt, doanh thu đạt khoảng 62,5 nghìn tỷ đồng. Năm 2025, du lịch Việt Nam ghi nhận dấu mốc tăng trưởng ấn tượng khi lượng khách quốc tế đạt gần 21,2 triệu lượt (tăng hơn 20,4% so với năm 2024), tổng thu từ du lịch vượt mốc 1 triệu tỷ đồng. Năm 2026, ngành du lịch đặt mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế, 150 triệu lượt khách nội địa và đạt doanh thu khoảng 1.125 nghìn tỷ đồng. Trong bức tranh đó, du lịch văn hóa được kỳ vọng trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng.
Thị trường điện ảnh dần được định hình với sự hiện diện của các hãng phim tư nhân, nhà sản xuất độc lập, hệ thống rạp chiếu hiện đại, những chiến dịch phát hành chuyên nghiệp cùng thói quen ra rạp của công chúng đô thị. Thị trường ghi nhận những cột mốc kỷ lục doanh thu trên 100 tỷ đồng của các phim nội địa như Mai, Thám Tử Kiên, Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối, Tử chiến trên không và đặc biệt Mưa đỏ đạt gần 800 tỷ đồng; cho thấy khả năng chinh phục khán giả của cả dòng phim tư nhân và phim Nhà nước đặt hàng.

Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tạ Quang Đông nhận định: “Nếu 40 năm Đổi mới là hành trình điện ảnh Việt Nam khẳng định vị trí của mình trong đời sống văn hóa dân tộc, thì giai đoạn phát triển mới của đất nước sẽ là thời kỳ điện ảnh Việt Nam hướng tới những mục tiêu lớn hơn, đó là trở thành một ngành công nghiệp văn hóa hiện đại, có năng lực cạnh tranh quốc tế, đồng thời góp phần lan tỏa hình ảnh Việt Nam ra thế giới”.
Âm nhạc Việt Nam đang trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, có khả năng xuất khẩu văn hóa và thúc đẩy du lịch. Du lịch concert đang dần trở thành một xu hướng đáng chú ý; là hình thức kết hợp giữa việc tham dự các buổi hòa nhạc, lễ hội âm nhạc với hành trình khám phá điểm đến. Năm 2023, hai đêm diễn của nhóm nhạc Hàn Quốc Blackpink tại sân vận động Mỹ Đình (Hà Nội) đã tạo nên một “cơn sốt” chưa từng có khi đón hơn 170.000 lượt khách, trong đó có hơn 30.000 khách quốc tế; tổng doanh thu từ du lịch ước tính đạt khoảng 630 tỷ đồng. Thị trường trong nước cũng có sự chuyển mình đáng kể.

Điển hình, chuỗi concert của các chương trình Anh trai say hi, Anh trai vượt ngàn chông gai góp phần định hình thị hiếu, đồng thời khai phá thế hệ nghệ sĩ đa năng với lượng khán giả “khủng”. Các concert/sự kiện ngoài trời của cá nhân nghệ sĩ tên tuổi và những đơn vị lớn đứng ra tổ chức như Tổ quốc trong tim của Báo Nhân Dân, V Concert - Rạng rỡ Việt Nam của VTV... thu hút hàng chục nghìn khán giả mỗi đêm, khẳng định năng lực tổ chức và sức cầu mạnh mẽ của thị trường nội địa.
Ngành thủ công mỹ nghệ kết hợp du lịch với hơn 1.800 làng nghề truyền thống được bảo tồn, nhiều sản phẩm xuất khẩu sang các thị trường Nhật, Mỹ, EU... đạt kim ngạch hàng tỷ USD. Đồng thời, việc phát triển, làm mới các làng nghề truyền thống bằng các mô hình trải nghiệm cũng tạo không gian văn hóa du lịch thu hút du khách. Các loại hình trò chơi điện tử và dịch vụ trực tuyến tăng mạnh, Việt Nam nằm trong top 5 thị trường game lớn nhất Đông Nam Á...
Một số trung tâm công nghiệp văn hóa trọng điểm, có vai trò dẫn dắt được hình thành. Hiện nước ta có ba thành phố trong Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO, gồm: Hà Nội - thành phố sáng tạo trong lĩnh vực “thiết kế”; Đà Lạt - thành phố sáng tạo trong lĩnh vực “âm nhạc”; Hội An - thành phố sáng tạo trong lĩnh vực “thủ công và nghệ thuật dân gian”. Những địa phương có tài nguyên đặc thù như: Huế, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hội An, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long... có thể hình thành các cụm công nghiệp văn hóa chuyên biệt; góp phần mở rộng và phát triển mạng lưới các thành phố sáng tạo trên cả nước...
Có thể thấy, sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa không diễn ra đơn lẻ mà có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, tạo động lực cho nhiều lĩnh vực khác như: Du lịch, dịch vụ, thương mại, công nghệ, truyền thông, quảng cáo, bất động sản và phát triển đô thị, kinh tế đêm...

Tiết mục trong chương trình Tổ quốc trong tim. (Ảnh: Thủy Nguyên - Thế Đại)
Cần hệ sinh thái sáng tạo mạnh cho những khoảng trống
____
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giai đoạn 2018-2025, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP ước đạt khoảng 4-5%, trong khi mục tiêu đặt ra đến năm 2030 tối thiểu là 7% GDP. Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, lực lượng sáng tạo trẻ, thị trường hơn 100 triệu dân cùng sự phát triển nhanh của công nghệ và kinh tế số, nhưng tiềm năng này chưa được khai thác tương xứng. Thực tiễn phát triển các ngành công nghiệp văn hóa thời gian qua vẫn gặp nhiều khó khăn, còn nhỏ về quy mô, tiềm lực; phát triển chưa có trọng tâm, trọng điểm; chưa tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Cụ thể, về kinh tế trải nghiệm cần thiết kế hành trình từ việc “xem” một sản phẩm văn hóa sang các dịch vụ, kết nối công nghiệp văn hóa với du lịch, ẩm thực, kinh tế đêm, lễ hội, di sản... Chú trọng khai thác kinh tế sự kiện qua các concert, festival, hội chợ sáng tạo, tuần lễ thời trang, liên hoan phim... Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu văn hóa không chỉ với phim, âm nhạc mà còn cả format chương trình, game, nhân vật, thiết kế, thời trang, ẩm thực, nội dung số, bản quyền... công nghiệp văn hóa số còn nhiều lĩnh vực chưa khai thác hết tiềm năng như game, hoạt hình, nội dung số, sản xuất ảo, AI...
Đáng chú ý, khi văn hóa trở thành hàng hóa sẽ có nguy cơ giảm giá trị tinh thần, biến di sản thành sản phẩm tiêu thụ, mất đi chiều sâu văn hóa nếu không có định hướng phù hợp. Vì thế bài toán đặt ra là làm thế nào để văn hóa tạo ra giá trị kinh tế, trở thành hàng hóa mà vẫn giữ bản sắc. Phát triển công nghiệp văn hóa cần vượt qua rào cản của phân hóa vùng miền khi các vùng sâu, nông thôn, miền núi nếu không có hỗ trợ sẽ dẫn tới khoảng cách với các thành phố lớn, trung tâm có nhiều lợi thế.
Để tháo gỡ những điểm nghẽn cho công nghiệp văn hóa, cần tập trung vào một số nhóm giải pháp. Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, rà soát các quy định liên quan công nghiệp văn hóa theo hướng đồng bộ, giảm chồng chéo và tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo, đầu tư, sản xuất và kinh doanh.
Thứ hai, thiết kế cơ chế tài chính phù hợp; cần nghiên cứu các mô hình quỹ đầu tư sáng tạo, ưu đãi thuế, tín dụng, hợp tác công - tư và cơ chế đặt hàng sản phẩm văn hóa.

Giải đua ngựa Bắc Hà (Lào Cai) đã trở thành điểm nhấn văn hóa, du lịch của vùng cao Tây Bắc (Ảnh: CAO KHẮC VIỆT)
Thứ ba, coi sở hữu trí tuệ là tài sản kinh tế, không chỉ bảo vệ quyền tác giả mà phải xây dựng thị trường bản quyền, giúp nhà sáng tạo và doanh nghiệp kiếm tiền từ tài sản trí tuệ trong dài hạn.
Thứ tư, cải cách đào tạo phải vượt khỏi ranh giới giữa nghệ thuật và kinh doanh, giữa văn hóa và công nghệ.
Thứ năm, phát triển hạ tầng cho công nghiệp văn hóa, cần được nhìn nhận như hạ tầng của nền kinh tế sáng tạo, không đơn thuần là phục vụ văn hóa.
Thứ sáu, xây dựng thương hiệu văn hóa Việt Nam, xây dựng khả năng cạnh tranh quốc tế về thương hiệu, nội dung, chất lượng và bản quyền.
Thứ bảy, tạo cơ chế để cộng đồng cùng hưởng lợi; đặc biệt với di sản, làng nghề và văn hóa các cộng đồng địa phương.
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là chúng ta còn thiếu một hệ sinh thái sáng tạo đủ mạnh để kết nối các nguồn lực.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn
Thực tế, không ít người vẫn xem văn hóa là giá trị tinh thần thuần túy, cần bảo tồn chứ chưa phải là lĩnh vực có thể tạo ra của cải, giá trị gia tăng và sức mạnh mềm quốc gia. Nếu thiếu niềm tin và sự ủng hộ quyết liệt từ chính sách đến cộng đồng sẽ khó có động lực mạnh để ngành này bứt phá.
Vừa qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xây dựng Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, tập trung vào 6 nhóm nội dung lớn, bao gồm: Phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, thị trường công nghiệp văn hóa cùng chính sách tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương: “Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là chúng ta còn thiếu một hệ sinh thái sáng tạo đủ mạnh để kết nối các nguồn lực. Cần kết nối sáng tạo với nguồn vốn, thị trường, công chúng và các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Vì vậy, không thể chỉ tháo gỡ ở một khâu mà phải tháo gỡ cả một chuỗi, từ thể chế, cơ chế đầu tư, hạ tầng, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đến thị trường và các khâu hỗ trợ khác. Chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng Việt Nam sẽ có những sản phẩm văn hóa mang sức lan tỏa tương tự như K-pop của Hàn Quốc hay những sản phẩm văn hóa nổi bật của Nhật Bản, Trung Quốc. Điều quan trọng là phải tạo dựng được một hệ sinh thái sáng tạo đủ thuận lợi để nền công nghiệp văn hóa thật sự cất cánh”.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP và hình thành từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia; đến năm 2045, tỷ lệ đóng góp đạt khoảng 9% GDP. Nguồn lực dành cho văn hóa gắn với yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/khong-gian-tang-truong-giau-tiem-nang-post996118.html

