Kiến nghị trao quyền 'nhạc trưởng vùng' cho TP.HCM trong Luật đô thị đặc biệt
Theo các chuyên gia, việc trao quyền cho đô thị đặc biệt không phải để tạo ra đặc quyền địa phương mà để hình thành mô hình quản trị mới có khả năng nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia.

TP.HCM đang lấy ý kiến các cấp, các ngành, chuyên gia... và khẩn trương hoàn thiện dự thảo Luật Đô thị đặc biệt trước khi cùng phối hợp thực hiện các bước tiếp theo trong trình tự thủ tục với Bộ Tư pháp cũng như các cơ quan Trung ương.
Mới đây, tại hội thảo góp ý cho Luật Đô thị đặc biệt do Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM tổ chức, các ý kiến chuyên gia cho răng dự thảo Luật Đô thị đặc biệt là bước chuyển rất lớn về tư duy thể chế đô thị của Việt Nam. Tuy nhiên, để luật thực sự trở thành nền tảng cho mô hình siêu đô thị đầu tiên của Việt Nam thì cân hoàn thiện theo hướng chuyển từ tư duy quản lý địa giới hành chính sang tư duy vận hành siêu đô thị số, kinh tế tri thức và quản trị vùng hiện đại.
Việc trao quyền cho đô thị đặc biệt không phải để tạo ra đặc quyền địa phương mà để hình thành mô hình quản trị mới có khả năng nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia.

TP.HCM cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng chuyển từ tư duy quản lý địa giới hành chính sang tư duy vận hành siêu đô thị số, kinh tế tri thức và quản trị vùng hiện đại. Ảnh: THUẬN VĂN
Mô hình quản trị mới tương xứng với siêu đô thị
PGS-TS Phan Thanh Bình, nguyên Giám đốc ĐH Quốc gia TP.HCM, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM, nhìn nhận các nghị quyết trước đây như Nghị quyết 54 hay Nghị quyết 98 chủ yếu nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn quản lý và tăng tính linh hoạt hành chính. Còn dự thảo Luật Đô thị đặc biệt lần này là xây dựng nền tảng pháp lý cho mô hình vận hành siêu đô thị đầu tiên của Việt Nam. Nam.
Theo ông Bình, Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị xác định rất rõ yêu cầu tạo đột phá thể chế để TP.HCM thực sự trở thành cực tăng trưởng quốc gia, trung tâm tài chính quốc tế, trung tâm đổi mới sáng tạo, đầu mối logistics và kết nối quốc tế, hạt nhân liên kết vùng và cạnh tranh toàn cầu.
Do đó, Luật Đô thị đặc biệt không phải là câu chuyện “xin thêm cơ chế”, mà là thiết kế một mô hình quản trị mới cho một không gian phát triển quy mô rất lớn, đa trung tâm...
Ông chỉ ra một mâu thuẫn lớn hiện nay là tư duy mục tiêu của luật đã hướng tới mô hình siêu đô thị hiện đại nhưng nhiều điều khoản vẫn được thiết kế theo logic quản lý hành chính truyền thống. Nếu không xử lý được mâu thuẫn này, luật khó tạo ra được mô hình quản trị đô thị mới.

Luật Đô thị đặc biệt không phải là câu chuyện “xin thêm cơ chế”, mà là thiết kế một mô hình quản trị mới cho một không gian phát triển quy mô rất lớn, đa trung tâm. Ảnh: NGUYỄN TIẾN
Ông Nguyễn Hoàng Năng, nguyên Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM, nhắc lại bài học từ quy hoạch năm 1990. Khi đó, TP.HCM giao cho các quận, huyện công bố quy hoạch nhưng quy trình buộc phải xin ý kiến Sở QH-KT. Hệ quả, bản vẽ từ cấp trên không bám sát thực tiễn. Việc “cái gì cũng hỏi Trung ương” đặt ra một dấu hỏi lớn về trách nhiệm giải trình.
Theo ông Năng, xem qua Điều 9 và Điều 42 của dự thảo luật, gần như các nội dung đều phải xin ý kiến Trung ương rồi mới có quyết định. Và dù tinh thần của Luật Đô thị đặc biệt là phân cấp, phân quyền với việc giao cho TP.HCM hơn 300 thẩm quyền nhưng nhiều điều khoản vẫn yêu cầu xin ý kiến. “Điều này cho thấy việc làm luật vẫn còn bóng dáng của các cơ chế đặc thù trước đây. Nên chăng cần xây dựng luật theo hướng TP tự quyết định, thực hiện và tự chịu trách nhiệm” - ông Nguyễn Hoàng Năng nói.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM, Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM, cho rằng cần định hình Luật Đô thị đặc biệt theo hướng là một đạo luật cá biệt, thiết kế riêng. Việc luật hóa cá biệt giúp các cơ chế vượt trội được kích hoạt ngay mà không làm xáo trộn khung pháp lý chung của quốc gia.
Dự thảo dự kiến có 140 thẩm quyền giao cho HĐND TP.HCM, 130 thẩm quyền giao cho UBND TP.HCM và 20 thẩm quyền giao cho chủ tịch UBND TP.HCM. Tuy nhiên, TP.HCM cần quyền chủ động lập các cơ quan quản trị đặc thù như cơ quan quản lý mô hình phát triển đô thị theo định hướng phát triển giao thông công cộng (TOD), Ban điều hành Trung tâm tài chính quốc tế (VIFC)...
Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế (VIFC) và khu thương mại tự do (FTZ) phải có thẩm quyền “một cửa tại chỗ” về cấp phép đầu tư, thủ tục hải quan, visa và giải quyết tranh chấp thương mại thông qua trọng tài quốc tế. Cơ chế này cần áp dụng luật quốc tế và sử dụng tiếng Anh, tránh mô hình cơ quan điều hành chỉ làm đầu mối phối hợp thụ động với các bộ, ngành Trung ương.

Nút giao Tân Vạn, dự án Vành đai 3 - một trong những dự án quan trọng của TP.HCM. Ảnh: ĐT
Chuyển từ quản lý địa giới sang vận hành siêu đô thị, quản trị vùng
Góp ý ở lĩnh vực quy hoạch, PGS-TS Phan Thanh Bình đánh giá Điều 11 về quy hoạch trong dự thảo luật là một bước tiến đáng ghi nhận. Tuy nhiên, cách tiếp cận vẫn chủ yếu thiên về quản lý quy hoạch, quản lý địa giới và phân cấp thẩm quyền hơn là vận hành không gian siêu đô thị.
Theo ông, trong một siêu đô thị hiện đại, các cấu phần như TOD, logistics, cảng biển, sân bay, giao thông công cộng, không gian ngâm, hành lang kinh tế hay các không gian kết nối quốc tế đều vận hành như một hệ thống liên kết vùng thống nhất. Do đó, luật cần bổ sung cơ chế quy hoạch tích hợp vùng, điều phối hạ tầng chiến lược, chia sẻ dữ liệu vùng, phối hợp đầu tư liên vùng, điều phối logistics và giao thông vùng.
“Đồng thời, cần cho phép đô thị đặc biệt được tham gia đầu tư các công trình hạ tầng kết nối chiến lược ngoài địa giới hành chính nhưng thuộc không gian phát triển chung của vùng” - PGS-TS Phan Thanh Bình đề xuất.
Khi bàn về liên kết vùng, PGS-TS Phan Thanh Bình cho rằng dự thảo vẫn có xu hướng đồng nhất đô thị lớn về quy mô với siêu đô thị hiện đại được vận hành bằng liên kết vùng. Đây là hai cấp độ hoàn toàn khác nhau.
Theo ông, một siêu đô thị không chỉ được quyết định bởi diện tích, dân số, số lượng dự án hay mật độ xây dựng mà bởi năng lực điều phối vùng, tích hợp hạ tầng, liên thông dữ liệu, hiệu quả logistics...
“Không có quản trị vùng thực chất, siêu đô thị sẽ tiếp tục mở rộng không gian nhưng không tạo được hiệu quả phát triển" - PGS-TS Phan Thanh Bình nhấn mạnh và góp ý luật cần nghiên cứu bổ sung thiết chế điều phối vùng thường trực, cơ chế chia sẻ dữ liệu bắt buộc, quỹ phát triển vùng, cơ chế phối hợp đầu tư hạ tầng chiến lược, cơ chế xử lý các xung đột lợi ích liên vùng. Đây mới là nền tảng vận hành thật sự của một siêu đô thị hiện đại.

PGS.TS Phan Thanh Bình cho rằng Luật cần nghiên cứu bổ sung thiết chế điều phối vùng thường trực, cơ chế chia sẻ dữ liệu bắt buộc. Ảnh: BẢO PHƯƠNG
Luật sư Nguyễn Văn Hậu cho rằng TP cần có thực quyền liên kết vùng. Trong đó, Hội đồng điều phối vùng phải có tính ràng buộc thực thi pháp lý cao. Luật cần quy định rõ quyền ban hành dòng ngân sách đặc thù, cho phép TP sử dụng ngân sách để đầu tư trực tiếp vào các công trình hạ tầng liên vùng (nằm ngoài địa giới hành chính TP) nếu công trình đó phục vụ trực tiếp cho lợi ích phát triển và giải quyết điểm nghẽn giao thông, môi trường của TP.
PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách ĐHQG-HCM, Trường ĐH Kinh tế - Luật, cho rằng sự phát triển của TP.HCM chịu tác động và ảnh hưởng lớn đến phát triển của các địa phương trong liên kết vùng. Theo ông, để thể hiện rõ vai trò dẫn dắt, đầu tàu của TP, có thể tham khảo những nội dung này trong Luật Thủ đô để làm rõ vai trò của TP.HCM.
Bên cạnh đó, dự thảo luật cần bổ sung nội dung giao quyền điều phối, dẫn dắt vùng của TP.HCM. Điều 37 xác định TP.HCM là trung tâm liên kết vùng rất đúng nhưng vẫn dựa nhiều vào nguyên tắc “đồng thuận”. Trong thực tế, liên kết vùng ở Việt Nam đang thiếu thẩm quyền điều phối, nguồn lực tài chính, cơ chế ràng buộc và lợi ích chia sẻ.
Nếu mọi dự án vùng đều cần từng địa phương đồng thuận thì dự án có thể chậm do khác biệt lợi ích, ngân sách và ưu tiên chính trị. Điều 38 dự luật quy định Thủ tướng quyết định danh mục dự án liên kết vùng theo đề nghị của UBND TP. Quy định này có thể cần thiết với dự án lớn nhưng nếu áp dụng cho mọi dự án liên kết vùng thì vẫn là giữ cơ chế “xin cho". Trong khi đó, dự thảo cần trao cho TP.HCM vai trò “nhạc trưởng vùng” với các dự án có tính kỹ thuật, quy mô vừa hoặc dự án do Quỹ Phát triển vùng tài trợ.
PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình cho rằng nên định nghĩa “vùng đô thị đặc biệt TP.HCM là khu vực liên kết kinh tế - xã hội giữa TP.HCM và các tỉnh, TP có địa giới hành chính liền kề”.
Từ đó, vai trò điều phối vùng của TP.HCM thể hiện theo ba cấp độ. Thứ nhất, điều phối chiến lược, bao gồm đề xuất chương trình, kế hoạch liên kết vùng. Thứ hai, điều phối dự án, trong đó TP.HCM là cơ quan chủ quản hoặc cơ quan đầu mối đối với dự án vùng. Thứ ba, điều phối dữ liệu và tiêu chuẩn, tức xây dựng nền tảng dữ liệu vùng, tiêu chuẩn hạ tầng, tiêu chuẩn môi trường, logistics, giao thông, cấp nước, xử lý rác...
TP.HCM chính thức thử nghiệm ứng dụng thiết bị không người lái vào vận chuyển hàng hóa như cà phê, điện thoại iPhone 17 trong phạm vi có kiểm soát tại Khu công nghệ cao TP.HCM vào tháng 1-2026. Ảnh: THU HÀ
Sandbox phải mở nhưng cần kiểm soát rủi ro
PGS.TS Phan Thanh Bình cho rằng tinh thần xây dựng sandbox tại Điều 9 là đúng và phù hợp với yêu cầu đổi mới quản trị đô thị hiện đại. Theo tinh thần Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị, sandbox không nên bị hiểu hẹp như một cơ chế thử nghiệm kỹ thuật, mà phải là không gian thể chế để thử nghiệm mô hình phát triển mới, quản trị đô thị mới, mô hình tài chính đô thị mới và các công nghệ, thiết chế đổi mới sáng tạo có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Vấn đề không phải là “mở hay không mở”, mà là mở với cơ chế kiểm soát phù hợp. Hiện nay, dự thảo đang mở khá rộng cơ chế “khác luật” nhưng cơ chế hậu kiểm và giám sát dữ liệu chưa tương xứng. Rủi ro lớn nhất của cơ chế đặc thù này là nguy cơ hình thành các “ngoại lệ” trong các lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, TOD, tài sản công, hạ tầng chiến lược và không gian phát triển đô thị...
Theo ông Bình, Luật cần phân tầng rủi ro và thiết kế cơ chế kiểm soát tương ứng. Các lĩnh vực như công nghệ cao, đổi mới sáng tạo có thể mở mạnh hơn. Đối với các lĩnh vực liên quan đất đai, tài sản công hay đầu tư hạ tầng lớn, thí điểm nhưng phải đi kèm công khai, minh bạch, đánh giá độc lập và có cơ chế dừng khi rủi ro vượt ngưỡng.
Quan trọng hơn, cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Một siêu đô thị không chỉ cần thêm thẩm quyền mà cần năng lực ra quyết định nhanh, tích hợp và theo thời gian thực.

LS Nguyễn Văn Hậu, Luật cần mở rộng pháp lý với các cơ chế thử nghiệm. Ảnh: THANH THÙY
Theo LS Nguyễn Văn Hậu, Luật cần mở rộng pháp lý với các cơ chế thử nghiệm. Ông kiến nghị xây dựng một chương riêng biệt về "thử nghiệm chính sách có kiểm soát" bao gồm sandbox theo không gian địa lý và sandbox theo ngành nghề công nghệ cao (fintech, tài sản số, xe tự hành).
Đặc biệt, khi sandbox thí điểm thành công, HĐND TP.HCM phải có thẩm quyền ban hành quy định áp dụng chính thức trên địa bàn mà không phải chờ quy trình kiến nghị Trung ương sửa đổi các luật liên quan.
PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách ĐHQG-HCM, Trường ĐH Kinh tế - Luật, nêu Điều 28 về sandbox còn thiếu nguyên tắc bảo vệ người dùng, dữ liệu và cạnh tranh. Cụ thể, Điều 28 cho phép tạm thời không áp dụng một số quy định pháp luật trong phạm vi thử nghiệm. Đây là điểm đột phá nhưng cần thiết kế rất chặt. Nếu không, sandbox có thể trở thành “vùng trống pháp lý” hoặc tạo lợi thế không công bằng cho một số doanh nghiệp.
Cũng theo ông, Điều 28 chưa quy định rõ giới hạn về số lượng người tham gia thử nghiệm, phạm vi địa lý, thời gian, trần rủi ro tài chính, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bồi thường thiệt hại, bảo hiểm trách nhiệm, quyền rút lui của người dùng, công khai thông tin thử nghiệm, cơ chế xử lý khi thử nghiệm thất bại...

TP.HCM khai trương tuyến giao hàng Cần Giờ - Vũng Tàu bằng UAV. Ảnh: MINH HOÀNG
Dữ liệu và đổi mới sáng tạo là cốt lõi của siêu đô thị
Trong bối cảnh hiện nay, PGS.TS Phan Thanh Bình cho rằng dữ liệu và đổi mới sáng tạo có ý nghĩa quyết định tương lai vận hành đô thị hiện đại. Trong siêu đô thị hiện đại, quyền lực phát triển không còn nằm chủ yếu ở ngân sách mà nằm ở dữ liệu, hạ tầng số, quy hoạch và khả năng điều phối dòng vận động kinh tế - xã hội. Ai nắm dữ liệu sẽ kiểm soát giao thông, logistics, quy hoạch, vận hành đô thị và phân bổ không gian phát triển.
Do đó, dữ liệu không còn là công cụ kỹ thuật, mà là hạ tầng vận hành của siêu đô thị. Luật cần yêu cầu công khai dữ liệu quy hoạch; số hóa toàn bộ vòng đời đầu tư; kiểm toán số các dự án lớn; truy xuất toàn bộ quá trình điều chỉnh quy hoạch và phân bổ đất đai. Nếu không kiểm soát bằng dữ liệu minh bạch, cơ chế đặc thù rất dễ bị biến thành cơ chế hợp thức hóa lợi ích nhóm.
Đối với xã hội hóa thủ tục hành chính, vấn đề không phải là xã hội hóa hay không, mà là xã hội hóa có kiểm soát và kiểm soát dữ liệu. Siêu đô thị không vận hành bằng việc mở thêm các tầng trung gian hành chính, mà bằng nền tảng số thống nhất, dữ liệu tích hợp, điều hành thời gian thực và tự động hóa.
Vì vậy, Luật cần quy định rõ dữ liệu đô thị phải được quản lý trên nền tảng thống nhất do Nhà nước quản lý; các tổ chức xã hội hóa chỉ được tác nghiệp trên nền tảng dùng chung; không để hình thành các “trung gian dữ liệu” hay độc quyền dữ liệu công.
Quan trọng hơn, Luật cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý đất đai và hạ tầng sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kinh tế tri thức và không gian sáng tạo đô thị. Đây mới là nền tảng bền vững của TP.HCM trong cạnh tranh với các siêu đô thị khu vực và quốc tế.
Ý KIẾN:
GS.TS NGUYỄN NGỌC TRÂN, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội:
TP.HCM cần làm chủ hạ tầng dữ liệu
Điểm tích cực lớn nhất của dự thảo là định hướng gỡ các điểm nghẽn về quyền hạn, tạo điều kiện để TP.HCM phát triển tương xứng.
Để bộ máy mạnh dạn triển khai các mô hình mới cần xác định ranh giới rõ ràng giữa rủi ro khách quan trong quản trị với hành vi trục lợi để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm.
Một vấn đề ảnh hưởng đến thực thi và triển khai luật, theo tôi nằm ở tiếp cận hạ tầng dữ liệu dùng chung theo thời gian thực. TP.HCM phải được trao quyền và nguồn lực để xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung theo thời gian thực nhằm phục vụ quản trị đô thị hiện đại. Với hàng trăm thẩm quyền mới, TP không thể tiếp tục vận hành bằng phương thức thủ công.
Thực tế hiện nay muốn xin số liệu vẫn phải đi từng nơi, từng ban ngành. Nếu không làm chủ được hạ tầng dữ liệu rất khó phát huy sức mạnh của khoa học công nghệ.
Tôi cũng đề nghị bổ sung vào chương 5 của dự thảo Luật Đô thị đặc biệt nội dung về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, quy định cụ thể hơn về quản trị dữ liệu, phát triển và quản trị trí tuệ nhân tạo (AI).
Bởi lẽ, xu thế phát triển AI đã trở thành một công cụ, động lực, sức mạnh cần phải có chiến lược phát triển và quản trị hiệu quả. Đây là yêu cầu rất quan trọng với siêu đô thị TP.HCM trong giai đoạn phát triển mới.
-----
Ông PHẠM VĂN TRIÊM, đại biểu HĐND TP.HCM, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP.HCM:
Tạo môi trường quản trị minh bạch, rõ trách nhiệm
TP.HCM hiện nay là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, đóng góp khoảng 22–23% GDP quốc gia, gần 27% tổng thu ngân sách nhà nước và cũng là nơi tập trung số doanh nghiệp (DN) lớn nhất.
TP.HCM có rất nhiêu cơ hội phát triên nhưng cũng đang gặp những điểm nghẽn lớn về thủ tục, cơ chế phối hợp và thẩm quyền quyết định. Thực tế có những dự án DN chuẩn bị chỉ vài tháng nhưng thủ tục lại kéo dài nhiều năm. Điều này không chỉ làm tăng chi phí cho DN mà còn làm mất cơ hội phát triển của TP và xã hội.
Vì vậy, luật cần trao quyền chủ động cao hơn cho TP.HCM trong quy hoạch, đầu tư, tài chính và tổ chức bộ máy, cho phép TP quyết định nhanh các dự án chiến lược, đây mạnh phân cấp đi đôi với kiểm tra, giám sát minh bạch...
Điều DN cần nhất không phải là xin cơ chế ưu đãi đặc biệt, mà là một môi trường quản trị minh bạch, ổn định và rõ trách - nhiệm. Hiện DN nhỏ và vừa chiếm trên 98% tổng số DN, tạo ra khoảng 50% việc làm và đóng góp rất lớn cho tăng trưởng. Vì vậy, luật cần bổ sung các cơ chế đột phá để rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục đầu tư, đẩy mạnh chính quyền số và dịch vụ công trực tuyến. TP cần hình thành cơ chế “một cửa liên thông” thực chất, khuyến khích DN tham gia đầu tư hạ tầng theo mô hình PPP, có chính sách hỗ trợ DN đổi mới sáng tạo, công nghệ xanh và kinh tế tuần hoàn.
TP.HCM đang có lợi thế rất lớn với trung tâm tài chính - thương mại, hệ thống công nghiệp và logistics phát triển mạnh, cụm cảng biển và kinh tế biển quan trọng. Hạ tầng liên kết vùng Đông Nam Bộ cũng ngày càng hoàn thiện. Nếu có cơ chế phù hợp, TP.HCM hoàn toàn có thể trở thành một cực tăng trưởng mang tầm khu vực châu Á.
Tôi kiến nghị luật cho phép TP chủ động hơn trong liên kết vùng, huy động nguồn lực xã hội, hợp tác quốc tế, phát triển hạ tầng chiến lược và xây dựng đô thị theo hướng xanh, thông minh và bên vững.











