Kiến tạo hệ thống giáo dục đại học lớn mạnh

Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 vừa được Chính phủ phê duyệt đặt ra những mục tiêu rất cao.

Phép thử không chỉ là hoàn thành từng chỉ tiêu, mà quan trọng hơn là kiến tạo được một hệ thống giáo dục đại học mạnh, đa dạng về sứ mạng, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, vừa có những đại học đủ năng lực dẫn dắt và phục vụ yêu cầu phát triển mới của đất nước.

Ra đời trong quá trình triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035 đặt giáo dục đại học trước một yêu cầu lớn hơn: phải góp phần tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho giai đoạn phát triển mới; qua đó hình thành một hệ thống đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu trong nước và tham gia ngày càng bình đẳng vào không gian tri thức, khoa học - công nghệ quốc tế.

Thách thức nằm ở việc phải đạt nhiều mục tiêu cùng lúc: mở rộng tiếp cận nhưng không hạ chất lượng; tăng đào tạo sau đại học nhưng không dẫn tới lạm phát bằng cấp; mở rộng STEM phải đi cùng đội ngũ và năng lực nghiên cứu; sắp xếp mạng lưới nhưng không làm giảm cơ hội học tập; phát triển đại học tinh hoa nhưng đồng thời phải nâng năng lực toàn hệ thống.

Nếu triển khai từng chỉ tiêu riêng lẻ, nhiều mục tiêu có thể hoàn thành nhưng chưa chắc tạo ra thay đổi về chất. Một hệ thống mạnh không thể là tập hợp của hàng trăm trường cùng chạy theo một hình mẫu; đồng nghĩa không phải mọi trường đều phải trở thành đại học nghiên cứu hay chạy theo xếp hạng quốc tế.

Hệ thống nên đa dạng về sứ mạng: nghiên cứu, ứng dụng, chuyên ngành, phát triển vùng, mở rộng cơ hội tiếp cận; đồng thời phải có những đại học đủ năng lực dẫn dắt.

Vì thế, 30 cơ sở trọng điểm và 3-5 cơ sở định hướng tinh hoa cần được đặt trong cấu trúc của toàn hệ thống. Một vài đại học mạnh không làm nên một hệ thống mạnh, nhưng một hệ thống không có những đại học đủ sức dẫn dắt cũng khó có thể mạnh.

Chiến lược không dừng ở việc đặt ra mục tiêu, mà đã xác lập 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, bao phủ từ thể chế, quản trị, mạng lưới, đầu tư, tài chính, đội ngũ đến trí tuệ nhân tạo (AI), nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và hội nhập.

Phụ lục triển khai xác định 46 nhiệm vụ, kèm cơ quan chủ trì, phối hợp, thời hạn và sản phẩm. Tuy nhiên, nếu các mắt xích này vận hành tách rời, từng nhiệm vụ vẫn có thể hoàn thành đúng tiến độ nhưng hệ thống chưa chắc thay đổi.

Ở cấp Trung ương, chuyển đổi quan trọng nhất là từ quản lý các trường đại học sang kiến tạo một hệ thống giáo dục đại học. Nhà nước không nên can thiệp sâu vào các quyết định chuyên môn và quản trị nội bộ của nhà trường, nhưng phải mạnh hơn về hoạch định hệ thống, thể chế, dữ liệu, tài chính, đầu tư chiến lược và đánh giá kết quả.

Với từng cơ sở giáo dục đại học, cần chuyển từ nhấn mạnh quyền tự chủ sang xây dựng năng lực tự quản trị, văn hóa chất lượng và trách nhiệm về kết quả. Mỗi trường phải xác định rõ vị trí trong hệ thống, lựa chọn những lĩnh vực có thể tạo khác biệt và tập trung nguồn lực.

Một cách để kết nối các tầng chính sách là hình thành một “khế ước phát triển” giữa Nhà nước và đại học: Nhà nước xác định sứ mạng, trao quyền và cam kết nguồn lực; cơ sở giáo dục đại học cam kết những kết quả có thể đo lường, công khai và kiểm chứng.

Có thể cô đọng cơ chế ấy thành một chuỗi: sứ mạng - quyền - nguồn lực - kết quả - trách nhiệm. Qua đó, từng bước hình thành hệ thống giáo dục đại học mạnh, đa dạng về sứ mạng nhưng thống nhất trong mục tiêu phát triển quốc gia.

PGS-TS PHAN THANH BÌNH

Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/kien-tao-he-thong-giao-duc-dai-hoc-lon-manh-post873292.html