Kim ngạch 'tỷ đô' của sầu riêng và bài toán cân bằng thị trường xuất khẩu

Hơn 90% lượng sầu riêng xuất khẩu của Việt Nam tập trung vào một thị trường duy nhất. Trong bối cảnh thị trường này liên tục nâng cao các yêu cầu kỹ thuật, doanh nghiệp Việt đang phải đối mặt với hai thách thức song hành: duy trì quy mô kim ngạch tỷ USD và giảm dần sự phụ thuộc mang tính cấu trúc.

Ngay từ đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đã ghi nhận mức tăng trưởng rất mạnh. Tháng 1/2026, kim ngạch đạt 117 triệu USD, tăng tới 275% so với cùng kỳ. Đến tháng 3/2026, đà tăng tiếp tục bứt phá khi riêng thị trường Trung Quốc đạt 135 triệu USD, tăng gần 400%. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là toàn bộ mức tăng trưởng này vẫn chủ yếu xoay quanh một thị trường trọng điểm.

Thị trường tập trung cao: Phần lớn sản lượng hướng về một điểm đến

Dù sầu riêng Việt Nam đã có mặt tại nhiều quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc và Nhật Bản, nhưng cơ cấu xuất khẩu lại cho thấy sự lệch pha rõ rệt. Theo Tổng cục Hải quan, năm 2023, tổng kim ngạch xuất khẩu sầu riêng vượt 2,2 tỷ USD, trong đó khoảng 90–95% được tiêu thụ tại Trung Quốc. Bước sang các năm 2024 và 2025, xu hướng này vẫn tiếp diễn khi thị trường Trung Quốc tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong việc thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành.

 Kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đạt con số ấn tượng trong 3 tháng đầu năm 2026. Nguồn: Năng lượng sạch Việt Nam.

Kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đạt con số ấn tượng trong 3 tháng đầu năm 2026. Nguồn: Năng lượng sạch Việt Nam.

Ở chiều ngược lại, các thị trường khác tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng đáng kể như Hàn Quốc (303%), Papua New Guinea (266%), Mỹ (243%), Úc (68%), Canada (34%) và Nhật Bản (31%). Dù vậy, do quy mô ban đầu thấp, những mức tăng này chưa đủ tạo ra sự thay đổi lớn trong cơ cấu thị trường xuất khẩu.

Thực tế này phản ánh một nghịch lý: tăng trưởng là có, nhưng chưa đủ để giảm sự phụ thuộc. Trong ngắn hạn, việc tập trung vào một thị trường lớn giúp đảm bảo đầu ra ổn định và tăng trưởng nhanh. Tuy nhiên, về dài hạn, cấu trúc “một thị trường chi phối” khiến toàn bộ chuỗi giá trị dễ bị tổn thương trước các biến động chính sách từ phía đối tác. Bất kỳ thay đổi nào về quy định nhập khẩu hay tiêu chuẩn kỹ thuật đều có thể nhanh chóng tác động lan tỏa tới doanh nghiệp và người trồng trong nước.

Siết chặt tiêu chuẩn: Áp lực kỹ thuật trở thành rào cản lớn

Đối với thị trường chủ lực là Trung Quốc, các yêu cầu nhập khẩu sầu riêng đã vượt xa mức “được phép xuất khẩu” thông thường, trở thành một hệ thống tiêu chuẩn nghiêm ngặt về tuân thủ, minh bạch và kiểm soát rủi ro. Áp lực không chỉ nằm ở giá cả hay sản lượng mà còn ở việc từng lô hàng phải đáp ứng đầy đủ các quy định kỹ thuật, kiểm dịch và an toàn thực phẩm ngày càng khắt khe.

Cụ thể, Trung Quốc yêu cầu vùng trồng phải có đăng ký và mã số, cơ sở đóng gói phải được cấp mã GACC, doanh nghiệp xuất khẩu phải nằm trong danh sách được phép, đồng thời mỗi lô hàng phải có chứng nhận kiểm dịch thực vật. Ngoài ra, các tiêu chí về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, vi sinh vật và kim loại nặng (đặc biệt là cadmium) được kiểm soát chặt chẽ. Những lô hàng không đạt chuẩn có thể bị cảnh báo, xử lý khử trùng, trả lại hoặc tiêu hủy, thậm chí dẫn đến việc tạm dừng xuất khẩu đối với đơn vị vi phạm. Khi đó, vấn đề kỹ thuật không còn đơn thuần là yêu cầu chuyên môn mà trở thành rủi ro tài chính và uy tín thương hiệu.

 Lô sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc bằng "luồng xanh" vào cuối tuần qua. Ảnh: CTV.

Lô sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc bằng "luồng xanh" vào cuối tuần qua. Ảnh: CTV.

Để thích ứng với các yêu cầu ngày càng cao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định 3015/QĐ-BNNMT (ngày 4/8/2025) về quy trình kiểm soát an toàn thực phẩm đối với sầu riêng tươi xuất khẩu. Quy trình này thiết lập chuỗi kiểm soát khép kín, từ đăng ký, thẩm định đến cấp chứng nhận an toàn thực phẩm cho từng lô hàng. Các yêu cầu về mã số vùng trồng, chứng nhận cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc được siết chặt, đồng thời làm gia tăng chi phí và rủi ro ngay từ khâu sản xuất, thu hoạch đến vận chuyển.

Bên cạnh đó, theo dự thảo tiêu chuẩn TCVN về sầu riêng tươi, các chỉ số kỹ thuật cũng được quy định cụ thể, như giống Ri6 phải đạt hàm lượng chất khô tối thiểu khoảng 32,29%, giống Dona khoảng 32,22% – tương đương tiêu chuẩn của Thái Lan. Ngoài ra, sản phẩm còn phải tuân thủ các giới hạn về dư lượng hóa chất và kim loại nặng như chì, cadmium, thủy ngân, asen theo quy định hiện hành và yêu cầu riêng của từng thị trường.

 Truy xuất nguồn gốc sầu riêng xuất khẩu bằng tem QR. Ảnh: CTV.

Truy xuất nguồn gốc sầu riêng xuất khẩu bằng tem QR. Ảnh: CTV.

Trong trường hợp không đáp ứng tiêu chuẩn, doanh nghiệp sẽ phải gánh thêm chi phí xử lý, đối mặt với nguy cơ đình trệ lô hàng và thu hẹp thị trường tiêu thụ. Điều này cho thấy việc tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật và minh bạch nguồn gốc không còn là lựa chọn, mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để tồn tại trong chuỗi giá trị xuất khẩu sầu riêng.

Xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ, nhưng sự phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc vẫn là điểm nghẽn chưa được tháo gỡ. Đồng thời, việc các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe – từ mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc đến kiểm soát dư lượng và chỉ tiêu chất lượng – đang khiến mỗi lô hàng trở thành một phép thử về năng lực quản trị rủi ro. Tất cả điều này làm nổi bật tính phụ thuộc và sự mong manh của ngành sầu riêng Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập sâu rộng hiện nay.

Trúc Linh – Diễm Hương

Nguồn TCDN: https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/kim-ngach-ty-do-cua-sau-rieng-va-bai-toan-can-bang-thi-truong-xuat-khau-d66172.html