Kỳ 2: Những 'điểm nghẽn' đang níu chân nền khoa học Việt Nam
Sau khi xác định khoa học cơ bản là nền tảng chiến lược của phát triển quốc gia, điều quan trọng không kém là phải nhìn thẳng vào những 'nút thắt' đã tồn tại nhiều năm khiến nền khoa học Việt Nam chưa phát huy hết tiềm năng. Từ cơ chế tài chính ngắn hạn, tư duy quản lý nặng thủ tục đến việc thiếu các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm xuất sắc và môi trường đủ sức giữ chân nhân tài, những điểm nghẽn ấy đang làm chậm quá trình chuyển hóa tri thức thành sức mạnh quốc gia. Tháo gỡ những rào cản đó không chỉ là yêu cầu của ngành khoa học mà còn là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045.
Khoa học dài hạn vẫn bị quản lý bằng tư duy ngắn hạn
Có một nghịch lý đã tồn tại nhiều năm trong hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam: càng là những lĩnh vực cần thời gian tích lũy lâu dài thì lại càng phải vận hành trong khuôn khổ của những cơ chế ngắn hạn.
Không ít nhà khoa học cho rằng, để tạo ra một công trình khoa học cơ bản có giá trị quốc tế thường phải mất từ nhiều năm, thậm chí hàng chục năm nghiên cứu liên tục. Thế nhưng, nhiều đề tài hiện nay vẫn được tổ chức theo chu kỳ ngắn, kinh phí phân bổ từng năm, trong khi quá trình nghiệm thu, thanh quyết toán lại đặt nặng hồ sơ, thủ tục hơn là giá trị học thuật và tác động khoa học.
Điều đó khiến không ít nhóm nghiên cứu phải dành nhiều thời gian cho các công việc hành chính thay vì tập trung vào chuyên môn. Những ý tưởng dài hơi dễ bị chia nhỏ thành nhiều đề tài ngắn hạn; những hướng nghiên cứu nhiều rủi ro nhưng có khả năng tạo đột phá cũng khó có cơ hội được đầu tư đến cùng.
Trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam, PGS.TS Tạ Minh Tuấn - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thẳng thắn chỉ ra: Rào cản lớn nhất là chúng ta đang yêu cầu khoa học cơ bản tạo ra kết quả dài hạn, nhưng lại quản lý bằng tư duy ngắn hạn. Khoa học cơ bản cần thời gian tích lũy, cần độ sâu, cần sự kiên trì, trong khi cơ chế tài chính, đặt hàng, nghiệm thu, thanh quyết toán nhiều khi vẫn thiên về thủ tục, đầu vào và kết quả trước mắt.
Theo PGS.TS Tạ Minh Tuấn, nếu không thay đổi cách tiếp cận này thì rất khó kỳ vọng khoa học cơ bản tạo ra những phát hiện có giá trị nền tảng hay những công nghệ mang tính đột phá.
PGS.TS Tạ Minh Tuấn cho rằng hiện nay có bốn “điểm nghẽn” nổi bật đang làm chậm sự phát triển của khoa học cơ bản Việt Nam.
Trước hết là cơ chế tài chính còn ngắn hạn, chưa phù hợp với đặc thù của nghiên cứu cơ bản, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn - nơi nhiều công trình cần thời gian dài để tích lũy tư liệu, kiểm chứng và hình thành giá trị học thuật.
Điểm nghẽn thứ hai là thủ tục hành chính còn quá nặng, khiến các nhà khoa học phải dành nhiều thời gian cho chứng từ, báo cáo và quy trình quản lý thay vì đầu tư cho nghiên cứu.
Thứ ba, Việt Nam vẫn thiếu những chương trình nghiên cứu quy mô lớn, kéo dài nhiều năm và có tính liên ngành, tập trung giải quyết các vấn đề chiến lược của quốc gia như phát triển AI, bán dẫn, biến đổi khí hậu, quản trị quốc gia hay khoa học dữ liệu.
Quan trọng hơn cả, theo PGS.TS Tạ Minh Tuấn, Việt Nam vẫn chưa hình thành được nhiều trường phái khoa học mạnh, các nhóm nghiên cứu xuất sắc và những trung tâm nghiên cứu đủ tầm dẫn dắt học thuật, tạo nên sức lan tỏa đối với toàn bộ hệ sinh thái khoa học. Đó cũng là nguyên nhân khiến nhiều kết quả nghiên cứu còn rời rạc, thiếu tính kế thừa và chưa tạo được những bước đột phá có khả năng cạnh tranh quốc tế.

PGS.TS Tạ Minh Tuấn - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam về những điểm nghẽn cần tháo gỡ để khoa học cơ bản phát triển trong kỷ nguyên mới.
Theo PGS.TS Tạ Minh Tuấn, để tháo gỡ những điểm nghẽn này, phải chuyển từ quản lý chi li sang quản trị theo mục tiêu; từ tiền kiểm nặng nề sang hậu kiểm minh bạch; từ đầu tư dàn trải sang đầu tư có trọng tâm; từ đánh giá hành chính sang đánh giá bằng chất lượng học thuật, tác động chính sách và đóng góp cho quốc gia. Nhà khoa học cần được trao niềm tin, nhưng đồng thời phải chịu trách nhiệm đến cùng về liêm chính, chất lượng và giá trị xã hội của công trình nghiên cứu.
Một nền khoa học không thể tạo ra những phát minh mang tầm thời đại nếu vẫn bị quản lý bằng tư duy của những kế hoạch ngắn hạn. Khi thời gian của nhà khoa học bị chia nhỏ bởi thủ tục, thì tương lai của quốc gia cũng bị chia nhỏ bởi những cơ hội phát triển bị bỏ lỡ.
“chảy máu chất xám” không chỉ là câu chuyện người ra đi
Nếu cơ chế là “chiếc áo” đang kìm hãm khoa học thì con người chính là nguồn lực quyết định sự thành bại của mọi chiến lược phát triển. Không có những nhà khoa học giỏi, không có các nhóm nghiên cứu mạnh và không có thế hệ kế cận đủ năng lực, mọi mục tiêu về làm chủ công nghệ hay xây dựng nền khoa học tiên tiến đều khó trở thành hiện thực.
Nhiều năm qua, câu chuyện “chảy máu chất xám” luôn được nhắc đến như một trong những thách thức lớn nhất của khoa học Việt Nam. Mỗi năm có hàng nghìn sinh viên, nghiên cứu sinh và tiến sĩ trẻ sang học tập, nghiên cứu tại các trung tâm khoa học hàng đầu thế giới. Điều khiến dư luận trăn trở không phải là họ ra nước ngoài, mà là bao nhiêu người sẽ quay trở về.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, nếu chỉ nhìn vấn đề dưới góc độ “đi hay ở” thì vẫn chưa đầy đủ.
Không ít quốc gia hiện nay đã chuyển từ tư duy “giữ người” sang “giữ tri thức”. Bởi trong kỷ nguyên số, điều quyết định không phải nhà khoa học làm việc ở đâu, mà là tri thức của họ được kết nối với quốc gia như thế nào. Đây cũng là cách tiếp cận mà Việt Nam cần hướng tới nếu muốn biến nguồn lực trí thức toàn cầu thành sức mạnh phát triển.
Theo PGS.TS Trần Quốc Bình - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), bên cạnh hiện tượng chảy máu chất xám ra nước ngoài, còn tồn tại một thực trạng đáng lo ngại hơn nhưng ít được nhắc tới.
“Bên cạnh chảy máu chất xám ra bên ngoài, chúng ta còn phải lưu ý đến tình trạng chảy máu chất xám tại chỗ. Nghĩa là có người tài vẫn ở Việt Nam, vẫn đi làm mỗi ngày, nhưng năng lực sáng tạo của họ bị “đóng băng” do phải dành quá nhiều thời gian cho công việc hành chính, sự vụ, dạy thêm hoặc các dự án nhỏ lẻ để có thêm thu nhập, thay vì dấn thân vào những bài toán lớn của khoa học”.
Nhận định này đã chạm đến một vấn đề cốt lõi của hệ sinh thái nghiên cứu hiện nay. Điều làm mất đi sức sáng tạo của nhà khoa học nhiều khi không phải việc họ rời khỏi đất nước, mà là việc họ không còn đủ điều kiện để theo đuổi những ý tưởng khoa học dài hạn.
Theo PGS.TS Trần Quốc Bình, nhà khoa học trẻ không chỉ cần thu nhập tốt mà còn cần được làm việc trong một môi trường có tự do học thuật, có đồng nghiệp giỏi để trao đổi, có cơ hội tiếp cận các bài toán lớn và được đánh giá công bằng dựa trên năng lực thực chất.
PGS.TS Trần Quốc Bình cho rằng, trong bối cảnh khoa học thế giới phát triển theo hướng liên ngành, dựa trên dữ liệu lớn và hợp tác quốc tế sâu rộng, nếu Việt Nam không tạo điều kiện để các nhà khoa học tham gia các mạng lưới nghiên cứu toàn cầu thì rất khó giữ chân những người xuất sắc nhất.

PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh - Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử (Đại học Bách khoa Hà Nội) trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam về giải pháp xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu đủ mạnh để thu hút và giữ chân nhân tài khoa học.
Cùng chung quan điểm, PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh - Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho rằng, thu nhập, cơ sở vật chất hay thủ tục hành chính đều quan trọng nhưng chưa phải gốc rễ của vấn đề.
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh, nhà khoa học luôn mong muốn được làm việc với những đồng nghiệp giỏi, được tham gia các nhóm nghiên cứu mạnh, được tiếp cận những bài toán khoa học có ý nghĩa và được theo đuổi những ý tưởng mới. Đó là động lực rất lớn, đôi khi còn quan trọng hơn sự chênh lệch về thu nhập.
Trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh cho biết, khoa học là hành trình tích lũy kéo dài nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Muốn hình thành một nhóm nghiên cứu mạnh hay tạo dựng một hướng nghiên cứu mới đều cần sự ổn định và tầm nhìn dài hạn. Nếu các nhà khoa học luôn phải chạy theo những nhiệm vụ ngắn hạn để duy trì hoạt động thì rất khó tạo ra các công trình có giá trị đột phá.
Một yếu tố khác cũng không kém phần quan trọng là cơ hội phát triển nghề nghiệp. Người trẻ cần nhìn thấy một lộ trình rõ ràng, từ nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ đến trưởng nhóm nghiên cứu hay giáo sư; quan trọng hơn là được giao những bài toán lớn để chứng minh năng lực và khẳng định dấu ấn khoa học của mình.
Ở góc nhìn rộng hơn, cả hai nhà khoa học đều cho rằng, trong thời đại toàn cầu hóa, việc các nhà khoa học học tập và làm việc ở nước ngoài là xu thế tất yếu của khoa học hiện đại. Điều cần hướng tới không phải là giữ họ ở lại bằng mọi giá, mà là xây dựng Việt Nam trở thành nơi họ muốn quay về, muốn hợp tác và muốn cống hiến.
PGS.TS Nguyễn Hữu Thanh cho rằng thế giới hiện nay đang chuyển từ tư duy “brain drain” (chảy máu chất xám) sang “brain circulation” (tuần hoàn chất xám). Theo đó, tri thức, kinh nghiệm, mạng lưới hợp tác và các nguồn lực khoa học luôn được lưu chuyển giữa các quốc gia.
“Điều quan trọng không phải nhà khoa học đang ở đâu, mà là tri thức của họ đang được sử dụng ở đâu và tạo ra giá trị cho ai. Nếu xây dựng được một hệ sinh thái nghiên cứu đủ hấp dẫn và một cơ chế kết nối hiệu quả, chúng ta không chỉ hạn chế được “chảy máu chất xám” mà còn có thể biến nguồn lực trí thức toàn cầu của người Việt thành lợi thế cạnh tranh của quốc gia.”
Theo các chuyên gia, để làm được điều đó, cần đồng thời giải quyết nhiều bài toán: đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản; đổi mới cơ chế tài trợ theo chuẩn quốc tế; tinh giản thủ tục hành chính; trao quyền tự chủ thực chất cho các trường đại học nghiên cứu và các trưởng nhóm nghiên cứu; đồng thời xây dựng các chương trình quốc gia kết nối cộng đồng trí thức Việt Nam trên toàn thế giới.
Bởi xét đến cùng, người tài không lựa chọn nơi có nhiều khẩu hiệu nhất, mà lựa chọn nơi giúp họ phát huy tốt nhất năng lực sáng tạo của mình. Và đó cũng chính là thước đo quan trọng nhất của một nền khoa học hiện đại.
Muốn có đột phá phải thay đổi cách đầu tư cho tri thức
Những quốc gia dẫn đầu về khoa học chưa bao giờ coi đầu tư cho nghiên cứu cơ bản là một khoản chi ngắn hạn. Họ coi đó là khoản đầu tư cho tương lai quốc gia, nơi kết quả không được đo bằng từng đề tài kết thúc mỗi năm mà bằng những công nghệ, doanh nghiệp và ngành công nghiệp mới được hình thành sau hàng chục năm.
Những phòng thí nghiệm hàng đầu của Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản hay Hàn Quốc không được xây dựng trong một vài năm, càng không vận hành bằng những đề tài ngắn hạn. Đằng sau mỗi công nghệ làm thay đổi thế giới là những chương trình nghiên cứu được đầu tư liên tục trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ; là sự kiên trì theo đuổi những ý tưởng tưởng chừng chưa mang lại hiệu quả tức thời nhưng có khả năng tạo ra bước ngoặt cho tương lai.
Đó cũng là điều mà nhiều nhà khoa học cho rằng Việt Nam cần mạnh dạn thay đổi nếu muốn hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam, PGS.TS Tạ Minh Tuấn - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh, khoảng thời gian từ nay đến năm 2045 không còn dài đối với một chiến lược phát triển khoa học.
“Nếu hôm nay chúng ta vẫn đầu tư ngắn hạn, manh mún, bình quân thì năm 2045 rất khó có đột phá. Nhưng nếu từ bây giờ hình thành cơ chế tài trợ dài hạn 5 năm, 10 năm, 15 năm cho các nhóm nghiên cứu mạnh, các trung tâm xuất sắc; chấp nhận rủi ro khoa học; đánh giá theo sản phẩm cuối cùng và tác động dài hạn thì Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành một số lĩnh vực khoa học cơ bản có năng lực cạnh tranh quốc tế.”
Theo PGS.TS Tạ Minh Tuấn, điều cốt lõi của một nền khoa học hiện đại không nằm ở số lượng đề tài hay công trình được nghiệm thu mỗi năm, mà ở khả năng hình thành các trường phái khoa học, những nhóm nghiên cứu xuất sắc và các trung tâm có đủ năng lực dẫn dắt học thuật trong từng lĩnh vực chiến lược.
Muốn có công nghệ lõi, trước hết phải có tri thức lõi. Muốn tạo ra tri thức lõi thì phải có những nhà khoa học được trao đủ thời gian, nguồn lực và quyền tự chủ để theo đuổi những bài toán lớn của quốc gia.
Ở góc nhìn của khoa học xã hội và nhân văn, PGS.TS Tạ Minh Tuấn cho rằng, nhiều người vẫn có xu hướng đánh giá giá trị nghiên cứu thông qua số lượng bài báo hoặc sách chuyên khảo. Tuy nhiên, giá trị sâu xa nhất của lĩnh vực này nằm ở việc kiến tạo nền tảng tư duy cho sự phát triển của đất nước.
Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Tạ Minh Tuấn cho biết: Khoa học xã hội và nhân văn phải góp phần xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời đại mới; đồng thời tạo ra những luận cứ khoa học giúp hoạch định chính sách, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản trị quốc gia.
“Muốn trở thành quốc gia phát triển, Việt Nam không chỉ phải làm chủ công nghệ, mà trước hết phải làm chủ tư duy phát triển. Công nghệ quyết định chúng ta làm được gì; còn khoa học xã hội và nhân văn giúp chúng ta trả lời câu hỏi quan trọng hơn: chúng ta phát triển để trở thành ai.”
Theo PGS.TS Tạ Minh Tuấn, trong tương lai, năng lực cạnh tranh của một quốc gia không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP hay số lượng doanh nghiệp công nghệ, mà còn ở khả năng hiểu xã hội và quản trị sự phát triển bằng dữ liệu, bằng chứng khoa học và những chỉ số phản ánh đúng chất lượng cuộc sống của người dân.

GS.TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trao đổi với PV Báo Pháp luật Việt Nam về vai trò của khoa học cơ bản trong việc tạo nền tảng tri thức, công nghệ lõi và năng lực tự chủ phát triển quốc gia.
GS. TS Chu Hoàng Hà - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, Việt Nam cần từng bước xây dựng hệ thống dữ liệu xã hội quốc gia và bộ chỉ số phát triển xã hội mang bản sắc Việt Nam, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách trong kỷ nguyên số.
Khoa học cơ bản chưa bao giờ thiếu khát vọng, điều còn thiếu là một cơ chế đủ rộng để khát vọng ấy được nuôi dưỡng. Khi những “điểm nghẽn” về thể chế, đầu tư và quản trị còn tồn tại, tri thức khó có thể chuyển hóa thành sức mạnh quốc gia. Vì thế, yêu cầu đổi mới mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra không chỉ dừng ở việc cải cách hoạt động khoa học, mà sâu xa hơn là kiến tạo một hệ sinh thái mới, nơi các nhà khoa học được trao niềm tin, nguồn lực và quyền tự chủ để bền bỉ theo đuổi những công trình có giá trị cho nhiều thế hệ. Đó cũng là chìa khóa để khoa học cơ bản thực sự trở thành nền tảng của một Việt Nam hùng cường vào năm 2045.
Nhưng nhận diện đúng điểm nghẽn mới chỉ là bước khởi đầu. Điều quan trọng hơn là phải tháo gỡ chúng bằng những đột phá về thể chế, cơ chế đầu tư và phương thức quản trị khoa học. Những giải pháp đó sẽ được phân tích trong kỳ tiếp theo.









![[INFOGRAPHIC] HONOR Watch X5i, đồng hồ thông minh pin 21 ngày](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_06_30_180_55512897/aab6934ecf05265b7f14.jpg)

