Kỳ tích y khoa: Những ca bệnh hiếm, khó phải 'chào thua' bác sĩ Việt

Từ những ca bệnh hiếm đến các bệnh lý đặc biệt phức tạp, bác sĩ Việt liên tiếp tìm ra lời giải bằng kỹ thuật đột phá, mở thêm cơ hội sống cho nhiều người bệnh.

Có những bệnh nhân từng được xem là không còn hy vọng. Có những ca bệnh hiếm và phức tạp đến mức y văn thế giới chỉ ghi nhận vài trường hợp. Song trong khoảng một thập kỷ qua, các bác sĩ Việt Nam tiliên ếp chinh phục những “bài toán” ấy bằng kỹ thuật y khoa tiên tiến, thiết bị hiện đại, sự phối hợp đa chuyên khoa và những giải pháp điều trị sáng tạo, mang lại cơ hội sống cho nhiều người bệnh.

Ca phẫu thuật chưa từng có tiền lệ

Phát hiện bị phù thai từ tuần thứ 26, bé Đ.P.T. (sinh tháng 1/2024, Tuyên Quang) phải gắn chặt với giường bệnh suốt 17 tháng sau khi chào đời. Tình trạng phù nề kéo dài cùng lượng albumin trong máu liên tục giảm khiến bụng bé chướng to và suy dinh dưỡng nặng. Dù vẫn ăn được, cơ thể bé gần như không thể hấp thu dinh dưỡng và lại rơi vào nguy cơ suy khi ngừng truyền albumin cũng như các chế phẩm máu.

Sau nhiều xét nghiệm chuyên sâu, các bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương xác định nguyên nhân là dị dạng bẩm sinh cực hiếm của hệ bạch huyết. Ống ngực bị tắc ngay tại vị trí đổ vào tĩnh mạch vùng cổ. Dưỡng chấp không thể lưu thông mà liên tục rò xuống ổ bụng, khiến bụng trẻ chướng căng, chèn ép cơ hoành, cản trở hô hấp. Tình trạng mất protein kéo dài cũng khiến hệ miễn dịch suy giảm nghiêm trọng, nguy cơ nhiễm trùng luôn rình rập.

Điều trị nội khoa tối ưu trong nhiều tháng vẫn không mang lại hiệu quả. Muốn cứu sống bệnh nhi, các bác sĩ chỉ còn một lựa chọn là khai thông điểm tắc của hệ bạch huyết. Tuy nhiên, “nút thắt” lại nằm ở vị trí được xem là hiểm nhất về giải phẫu: phía sau khớp giữa xương ức và xương đòn, sát cuống tim, nơi tập trung nhiều động mạch, tĩnh mạch lớn và các bó thần kinh quan trọng.

Bác sĩ thăm khám cho bệnh nhi sau phẫu thuật.

Bác sĩ thăm khám cho bệnh nhi sau phẫu thuật.

PGS.TS Nguyễn Lý Thịnh Trường, Giám đốc Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Nhi Trung ương, cho biết đây là ca bệnh đặc biệt khó bởi y văn trong nước chưa từng ghi nhận trường hợp tương tự. Với một em bé chỉ nặng chưa đầy 7kg, việc tiếp cận vùng tổn thương gần như là “vùng cấm”. Các bác sĩ không thể mở rộng xương ức hay phá khớp xương đòn như ở người lớn vì nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ sau này.

Để tìm đường vào an toàn, lần đầu tiên ê-kíp ứng dụng công nghệ thực tế ảo (Virtual Reality) trong điều trị một dị dạng bạch huyết phức tạp ở trẻ em. Từ dữ liệu chụp CT đa dãy, toàn bộ hệ bạch huyết, động mạch, tĩnh mạch và khung xương lồng ngực được dựng thành mô hình 3D có thể xoay 360 độ. Công nghệ này giúp bác sĩ xác định chính xác đường tiếp cận, hình dung rõ mối liên quan giữa các cấu trúc giải phẫu và lường trước các nguy cơ trước khi bước vào phòng mổ.

Sau hai tuần nghiên cứu, ca phẫu thuật được thực hiện. Khi tiếp cận tổn thương, ê-kíp bất ngờ gặp tình huống chảy máu từ một mạch máu nhỏ nằm sát khung xương. Bác sĩ quyết định sử dụng một kẹp mạch máu nhỏ chuyên dụng chừng 5mm để kẹp được mạch này. Ngay khi mạch máu được khống chế, anh và ê-kíp tiếp tục phương án phẫu thuật đã vạch ra từ trước.

Thách thức lớn nhất là nối hệ bạch huyết mong manh như sợi chỉ trong suốt với hệ tĩnh mạch, nhất là trên một em bé suy kiệt với cân nặng chưa được 7kg. Nếu khâu nối theo phương pháp thông thường rất dễ rách hoặc hẹp sau mổ. Các bác sĩ quyết định thực hiện kỹ thuật nối thông bạch huyết vào hệ tĩnh mạch không sử dụng chỉ khâu. Miệng nối được tạo trực tiếp từ tĩnh mạch vào bể dưỡng chấp đang bị ứ đọng, giữ nguyên lớp mô tự nhiên để tạo dòng lưu thông rộng và bền vững.

Đây là quyết định rất táo bạo. Nếu tiếp cận theo cách thông thường, ca bệnh này gần như không có lời giải”, PGS.TS Nguyễn Lý Thịnh Trường chia sẻ.

Ca mổ thành công. Hai tháng sau, kết quả chụp cộng hưởng từ cho thấy hệ bạch huyết không còn giãn, áp lực trong hệ thống đã được giải tỏa. Bụng trẻ xẹp rõ, phù toàn thân giảm, albumin trở về bình thường mà không cần truyền hằng ngày. Sau hơn một năm gần như sống trong bệnh viện, em đã có thể trở về nhà cùng gia đình.

Ca phẫu thuật không chỉ cứu sống một em bé, mà còn là một bước tiến lớn trong lĩnh vực phẫu thuật nhi khoa tại Việt Nam, khẳng định khả năng của các bác sĩ Việt Nam trong việc ứng dụng công nghệ cao để cứu sống trẻ em và mở ra những cơ hội mới cho các ca bệnh phức tạp khác trong tương lai.

Lấy thận ra “sửa chữa” rồi ghép lại như... mới

Nếu ca mổ tại Bệnh viện Nhi Trung ương đòi hỏi một lời giải hoàn toàn mới thì tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, các bác sĩ thực hiện thành công một kỹ thuật ghép thận tự thân đặc biệt, được bệnh viện ghi nhận là ca đầu tiên tại Việt Nam.

Bệnh nhân nữ 37 tuổi (ở tỉnh Phú Yên) được chẩn đoán phình động mạch thận trái ở rốn thận và có chỉ định cắt bỏ thận để tránh vỡ khối phình. Lo lắng nếu phải cắt bỏ thận, bệnh nhân tìm đến tiến sĩ - bác sĩ Ngô Vi Hải, Chủ nhiệm Khoa Ngoại lồng ngực, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 khám với mong muốn có một giải pháp điều trị khác.

Các bác sĩ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã thực hiện thành công một kỹ thuật ghép thận tự thân đặc biệt.

Các bác sĩ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã thực hiện thành công một kỹ thuật ghép thận tự thân đặc biệt.

Kết quả chụp CT tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho thấy túi phình bao trùm toàn bộ các nhánh động mạch nuôi thận trên, giữa và dưới. Với cấu trúc phức tạp như vậy, các kỹ thuật can thiệp nội mạch như đặt stent hay bít túi phình đều không khả thi. Do túi phình rất lớn và nằm trong túi thận nên phải sửa chữa đồng loạt tất cả nhánh động mạch trong khu vực thận.

Trong tình huống này, nếu đặt stent sẽ làm tắc hoàn toàn dòng máu đến thận, còn cắt bỏ thận thì bệnh nhân sẽ mất đi một phần chức năng sống quan trọng” - bác sĩ Hải phân tích.

Việc tái tạo động mạch thận nhằm bảo tồn chức năng thận là một thách thức lớn. Phẫu thuật sửa chữa khối phình khi quả thận vẫn ở trong cơ thể gần như không thể thực hiện được bằng các kỹ thuật mạch máu thông thường. Do đó, êkíp phẫu thuật đã lựa chọn giải pháp cắt thận ra khỏi cơ thể, tái tạo lại động mạch thận bên ngoài, rồi ghép trả lại cho bệnh nhân.

Kíp mổ gồm hai nhóm chuyên môn phẫu thuật tiết niệu và phẫu thuật mạch máu. Quá trình được triển khai theo kỹ thuật lấy thận ghép: Phẫu thuật nội soi cắt thận, đưa ra ngoài cơ thể, tái tạo động mạch thận và loại bỏ khối phình, sau đó ghép lại vào hố chậu cùng bên theo kỹ thuật ghép thận thường quy.

“Các phẫu thuật viên mạch máu cần thời gian để tái tạo động mạch thận, trong khi thận không được thiếu máu nóng quá 20-30 phút. Mọi thao tác phải chuẩn xác và nhanh chóng. Thận bệnh lý được lấy ra qua phẫu thuật nội soi hố chậu trái, đồng thời tận dụng đường mổ này để ghép lại sau khi tái tạo mạch máu” - bác sĩ Hải nói.

Sau gần 4 giờ phẫu thuật, thận hoạt động tốt, máu lưu thông ổn định. Bệnh nhân hồi phục nhanh, tự đi lại, không cần dùng thuốc chống thải ghép vì đây là ghép thận tự thân.

Theo bác sĩ Hải, trên thế giới rất ít các trường hợp có thể xử lý phình mạch động mạch thận phức tạp bằng kỹ thuật ghép thận tự thân và đây là trường hợp đầu tiên thực hiện thành công tại Việt Nam. Với thành công này, Việt Nam lần đầu tiên ứng dụng thành công kỹ thuật ghép thận tự thân, mở ra bước ngoặt mới trong điều trị phình mạch thận phức tạp. “Vì là ghép thận tự thân, người bệnh không cần dùng thuốc chống thải ghép. Đây chính là lợi thế lớn so với các ca ghép tạng thông thường” - chuyên gia nhấn mạnh.

Từ chỉ định buộc phải cắt bỏ thận đến hồi sinh ngoạn mục một cơ quan quan trọng đối mặt nguy cơ mất chức năng, ca phẫu thuật thận lịch sử này tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 không chỉ khẳng định trình độ ngoại khoa của Việt Nam đang tiệm cận với thế giới mà còn thể hiện tinh thần sáng tạo, dấn thân và trách nhiệm của đội ngũ thầy thuốc quân y trong hành trình chinh phục những giới hạn của y học. Ca phẫu thuật này lọt vào danh sách 1 trong 10 sự kiện khoa học và công nghệ tiêu biểu năm 2025.

Việt Linh

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/ky-tich-y-khoa-nhung-ca-benh-hiem-kho-phai-chao-thua-bac-si-viet-ar1030031.html