Kỳ vọng tạo dư địa cho khoa học, công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong các cơ sở GD-ĐT

Khi những rào cản về thể chế và môi trường thử nghiệm được tháo gỡ, thì khoa học, công nghệ sẽ có điều kiện đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: VNU.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: VNU.

Việc cho phép các trường đại học, cơ sở nghiên cứu triển khai cơ chế thử nghiệm công nghệ có kiểm soát (sandbox), gắn với cơ chế chấp nhận rủi ro, được kỳ vọng tạo dư địa cho khoa học, công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục và đào tạo.

Tháo điểm nghẽn bằng cơ chế

Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Luật Thủ đô năm 2026, Hà Nội đang từng bước hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ rào cản về thể chế, tạo môi trường thuận lợi hơn cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Mục tiêu là đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng cho phát triển Thủ đô.

Một trong những chính sách đáng chú ý là Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND của HĐND TP Hà Nội về một số chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ.

Theo đó, tùy trường hợp và mức độ đáp ứng các tiêu chí, ngân sách thành phố có thể hỗ trợ kinh phí mua sắm, thuê máy móc, thiết bị, phần mềm, hệ thống công nghệ phục vụ nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm; đồng thời hỗ trợ chi phí vận hành thiết bị trong thời gian thực hiện nhiệm vụ.

Chính sách cũng hướng tới tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong nghiên cứu và phát triển công nghệ. Việc doanh nghiệp cùng tham gia nguồn lực, chia sẻ trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ giúp tăng tính gắn kết giữa nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn, từng bước thúc đẩy quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

Đáng chú ý, Hà Nội đã thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) theo Nghị quyết số 26/2026/NQ-HĐND. Cơ chế này cho phép thử nghiệm các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình mới trong phạm vi, thời gian và điều kiện được xác định, đi kèm yêu cầu giám sát, kiểm soát và đánh giá rủi ro.

Từ góc độ các trường đại học, viện nghiên cứu, những cơ chế trên mở thêm không gian để kết quả nghiên cứu được thử nghiệm và kết nối với nhu cầu thực tiễn. Thay vì chỉ dừng ở phòng thí nghiệm hoặc chờ đầy đủ hành lang pháp lý cho mọi tình huống mới, các ý tưởng và công nghệ có tiềm năng có thể được kiểm chứng trong một khuôn khổ được giới hạn và giám sát. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu gắn nghiên cứu khoa học với ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa.

Học sinh trực tiếp trải nghiệm các hoạt động liên quan đến khoa học, công nghệ, STEM.

Học sinh trực tiếp trải nghiệm các hoạt động liên quan đến khoa học, công nghệ, STEM.

Từ cơ chế đến hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Là chuyên gia về vật liệu, kết cấu tiên tiến và composite, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Đại học Quốc gia Hà Nội - cho rằng, để triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, bên cạnh các cơ chế ở cấp thành phố, cần phát huy vai trò chủ động của chính quyền cơ sở trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong đó, có thể tạo điều kiện để các nhà khoa học, đặc biệt là các nhóm nghiên cứu trẻ, tham gia giải quyết những vấn đề cụ thể từ chuyển đổi số, quản trị đô thị đến ứng dụng công nghệ trong sản xuất và đời sống.

“Chính sách không chỉ dành cho nhà khoa học, mà cần tạo cơ chế để chính quyền địa phương cùng đồng hành”, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh và cho rằng, khi địa phương xác định được nhu cầu, nhà khoa học có năng lực giải quyết bài toán và doanh nghiệp có khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, các nguồn lực sẽ được kết nối hiệu quả hơn.

Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, khi những rào cản về thể chế, dữ liệu, nguồn lực, nhân lực và môi trường thử nghiệm từng bước được tháo gỡ, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ có thêm điều kiện đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội.

Đặt vấn đề trong mối quan hệ với giáo dục đại học, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, phát triển khoa học, công nghệ không thể tách rời việc xây dựng đội ngũ trí thức, nhà khoa học và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, được ban hành ngày 22/8/2025, đặt ra nhiều định hướng lớn đối với giáo dục đại học và phát triển nguồn nhân lực. Trong khi đó, Nghị quyết 57-NQ/TW cũng yêu cầu có cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và tăng cường liên kết giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo.

Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, đây là cơ sở quan trọng để các trường đại học phát huy mạnh hơn vai trò trung tâm nghiên cứu, đào tạo nhân lực và chuyển giao tri thức. Muốn vậy, chính sách cần tiếp tục tạo điều kiện để nhà khoa học được chủ động hơn trong nghiên cứu, có môi trường làm việc phù hợp và có cơ hội đưa kết quả nghiên cứu vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Việc Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được Quốc hội ban hành năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/10/2025, cũng tạo thêm cơ sở pháp lý cho việc đổi mới cơ chế quản lý và thúc đẩy hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

“Từ thể chế đến tổ chức thực hiện, điều quan trọng là phải tạo được không gian để trí thức, nhà khoa học phát huy năng lực và đóng góp vào những bài toán lớn của đất nước” - GS.TSKH Nguyễn Đình Đức chia sẻ.

Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, các chính sách mới nếu được triển khai đồng bộ sẽ tạo điều kiện để khoa học, công nghệ và giáo dục đại học gắn kết chặt chẽ hơn với nhu cầu phát triển. Khi đó, nguồn lực trí thức không chỉ tham gia nghiên cứu mà còn trực tiếp góp phần hình thành công nghệ, sản phẩm và các giải pháp mới.

Đây cũng là yếu tố quan trọng để xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có sự tham gia thực chất của Nhà nước, nhà khoa học, cơ sở giáo dục và doanh nghiệp; qua đó biến các chủ trương, chính sách về khoa học, công nghệ thành năng lực phát triển cụ thể trong thực tiễn.

Tại thời điểm thảo luận về dự án Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bà Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng) – nhìn nhận, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) là một trong những giải pháp quan trọng để tạo không gian pháp lý cho công nghệ, mô hình và sản phẩm mới được kiểm chứng trong thực tiễn.

Nhấn mạnh về sự cần thiết của cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, bà Việt Nga cho rằng, đây là đặc trưng của hoạt động nghiên cứu, bởi không phải mọi thử nghiệm đều cho kết quả thành công. Việc chấp nhận thất bại trong phạm vi được đánh giá và kiểm soát có thể tạo điều kiện để các nhà khoa học mạnh dạn theo đuổi những hướng nghiên cứu mới.

Tuy nhiên, theo bà Việt Nga, cần phân định rõ rủi ro khoa học có thể chấp nhận với hành vi vi phạm. Những trường hợp như sai số của mô hình hoặc kết quả thử nghiệm không đạt mục tiêu cần được xem xét trong bối cảnh nghiên cứu; trong khi gian lận, vi phạm đạo đức nghiên cứu hoặc cố ý làm sai lệch kết quả phải được xử lý theo quy định.

Để cơ chế chấp nhận rủi ro được thực hiện thực chất, bà Việt Nga đề xuất, cần nghiên cứu mô hình hội đồng đánh giá rủi ro có chuyên môn sâu, hoạt động độc lập; đồng thời xem xét cơ chế tài chính phù hợp đối với các nhiệm vụ nghiên cứu có tính rủi ro cao. Việc đánh giá nên tính đến tiềm năng sáng tạo, giá trị khoa học và khả năng tạo tác động trong tương lai, thay vì chỉ căn cứ vào một kết quả đầu ra hữu hình trong ngắn hạn.

Minh Phong

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/ky-vong-tao-du-dia-cho-khoa-hoc-cong-nghe-va-thuc-day-doi-moi-sang-tao-trong-cac-co-so-gd-dt-post794484.html