Lao động Việt Nam đã sẵn sàng cho kỷ nguyên AI

Trong hành trình ứng dụng AI, người lao động Việt Nam đang tiến nhanh hơn chính doanh nghiệp nơi mình công tác. Họ đã chủ động tận dụng AI để thực hiện những công việc có giá trị và tác động lớn hơn, trong khi không phải doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng để khai thác hết tiềm năng.

Đó là thông tin nổi bật nhất trong Báo cáo Chỉ số xu hướng công việc 2026 vừa công bố của Microsoft Việt Nam. Báo cáo được thực hiện trên cơ sở khảo sát 2.000 lao động tri thức tại Việt Nam.

Báo cáo Chỉ số xu hướng công việc năm nay chỉ ra một sự chuyển dịch mang tính nền tảng: Khi các tác nhân AI (AI Agents) đảm nhận nhiều hơn các công việc mang tính thực thi, vai trò không thay thế được của con người ngày càng được mở rộng. Người lao động có thêm thời gian và không gian để định hướng công việc, đưa ra đánh giá và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Rào cản giờ đây không còn nằm ở năng lực của từng cá nhân, mà ở cách các tổ chức thiết kế công việc, đội nhóm và hệ thống vận hành để con người và AI có thể phối hợp hiệu quả.

AI nâng cao giới hạn năng lực cho người lao động

Người lao động Việt Nam đang chủ động hơn trong quá trình sử dụng AI, khi kết hợp kinh nghiệm, chuyên môn và khả năng đánh giá của bản thân để nâng cao hiệu quả công việc. Điều này cho thấy AI không thay thế con người, mà đang góp phần định hình lại cách con người suy nghĩ và đưa ra quyết định. Thực tế, có tới 89% người dùng AI tại Việt Nam (mức trung bình toàn cầu là 86%) xem kết quả do AI tạo ra là nền tảng để suy nghĩ sâu hơn, thay vì là câu trả lời cuối cùng.

Xu hướng lao động làm quen với AI.

Xu hướng lao động làm quen với AI.

Xu hướng này được phản ánh rõ nét trong cách người lao động làm việc hàng ngày. Dẫn đầu ASEAN, Việt Nam hiện có 39% lực lượng lao động thuộc nhóm nhân sự tiên phong về AI (Frontier Professionals), những người sử dụng AI thành thạo nhất theo nghiên cứu. Tỷ lệ này vượt xa mức trung bình toàn cầu chỉ 16%. Không dừng lại ở việc sử dụng AI cho các tác vụ cơ bản, nhóm nhân sự này đang tích hợp AI một cách liền mạch vào các công việc như phân tích thông tin, giải quyết vấn đề phức tạp, đánh giá phương án và phát triển ý tưởng sáng tạo.

Năng lực này đang được chuyển hóa thành những kết quả rõ rệt trong thực tế. Có tới 76% người dùng AI tại Việt Nam cho biết họ đang tạo ra những sản phẩm, kết quả công việc mà một năm trước đây họ chưa thể thực hiện được, cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu là 58%. Đối với nhóm Nhân sự Tiên phong về AI (Frontier Professionals), tỷ lệ này còn tăng lên 83%, vượt mức trung bình toàn cầu là 80%.

Quan trọng hơn cả, những Nhân sự Tiên phong về AI tại Việt Nam không phó mặc tư duy và khả năng ra quyết định của mình cho AI. So với nhóm người dùng AI còn lại, nhóm Nhân sự Tiên phong về AI có xu hướng chủ động hơn trong việc thực hiện một số công việc mà không sử dụng AI nhằm rèn luyện và nâng cao kỹ năng chuyên môn (57% so với 41%). Bên cạnh đó, họ thường dành thời gian cân nhắc trước khi bắt đầu công việc để xác định đâu là những phần việc nên do con người đảm nhiệm và đâu là những phần việc phù hợp để giao cho AI (62% so với 50% ở các nhóm khác).

Tái cấu trúc cách thức vận hành công việc

Trong khi người lao động đang nâng cao năng lực ứng dụng AI với tốc độ đáng kinh ngạc, nghiên cứu trên toàn cầu cho thấy hệ thống tổ chức và mô hình lãnh đạo lại đang gặp khó khăn trong việc bắt kịp sự thay đổi này. Trên phạm vi toàn cầu, chỉ 19% tổ chức được xếp vào nhóm Tổ chức Tiên phong về AI (Frontier Organizations), những tổ chức vừa sở hữu lực lượng lao động có năng lực AI vượt trội, vừa có mức độ sẵn sàng cao trong việc khai thác hiệu quả AI. Phần lớn các tổ chức còn lại vẫn đang ở giai đoạn chuyển đổi (Emergent), nơi việc ứng dụng AI đã bắt đầu diễn ra nhưng năng lực của nhân viên, sự đồng thuận trong đội ngũ lãnh đạo và các khuôn khổ vận hành cần thiết vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.

Tuy nhiên, bức tranh tại Việt Nam lại cho thấy nhiều tín hiệu tích cực hơn. Theo nghiên cứu, 48% người dùng AI tại Việt Nam cho biết đội ngũ lãnh đạo trong tổ chức của họ có định hướng rõ ràng và nhất quán đối với AI, gần gấp đôi mức trung bình toàn cầu là 26%. Bên cạnh đó, 32% người được khảo sát cho biết họ được ghi nhận hoặc khen thưởng khi thử nghiệm những phương thức làm việc mới với sự hỗ trợ của AI, ngay cả khi các nỗ lực đó chưa mang lại kết quả tức thì. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu là 13%.

Tuy nhiên, đằng sau những tín hiệu tích cực đó là áp lực thích ứng ngày càng lớn. Hơn bốn trong năm người dùng AI tại Việt Nam được hỏi (82% so với 65% trên toàn cầu) cho biết họ lo ngại bị tụt lại phía sau nếu không nhanh chóng thích nghi và ứng dụng AI vào công việc.

Thực trạng này dẫn tới “Nghịch lý chuyển đổi” (Transformation Paradox): người lao động cảm thấy áp lực phải nhanh chóng thích nghi với AI để duy trì năng lực cạnh tranh, trong khi các yếu tố xung quanh như hệ thống đánh giá, cơ chế khuyến khích, chuẩn mực vận hành và quy trình tổ chức vẫn chưa bắt kịp sự thay đổi đó.

Một trong những phát hiện đáng chú ý nhất của báo cáo Chỉ số xu hướng công việc 2026 là các yếu tố thuộc về tổ chức có tác động lớn hơn nhiều so với hành vi của từng cá nhân trong việc tạo ra giá trị từ AI. Văn hóa doanh nghiệp, sự hỗ trợ từ cấp quản lý và các chính sách phát triển nhân tài đóng góp vào hiệu quả ứng dụng AI nhiều hơn gấp hai lần so với tư duy hay mức độ sử dụng AI của mỗi cá nhân.

Các doanh nghiệp tiên phong (Frontier Firms) đang chuyển từ giai đoạn đơn thuần ứng dụng AI sang hấp thụ AI một cách toàn diện vào tổ chức. Họ hiện thực hóa điều đó bằng cách tái cấu trúc quy trình làm việc, chuyển những kết quả do AI tạo ra thành các hiểu biết có giá trị và tích hợp chính những hiểu biết đó vào hoạt động hằng ngày của tổ chức. Theo thời gian, những kinh nghiệm, quy trình và tiêu chuẩn này trở thành Nguồn Tri thức riêng (Owned Intelligence) của doanh nghiệp, tạo nên lợi thế cạnh tranh khó có thể sao chép.

Đây cũng là điểm khác biệt nổi bật của nhóm nhân sự tiên phong về AI. Tại Việt Nam, so với nhóm người dùng AI khác, nhóm nhân sự tiên phong về AI cho biết các quy trình làm việc với AI, cơ chế phối hợp giữa con người và AI cũng như các tiêu chuẩn chất lượng đã được ghi nhận và có thể áp dụng lặp lại ở nhiều cấp độ trong tổ chức, từ cấp đội nhóm (27% so với 27%), cấp phòng ban/chức năng (30% so với 28%) đến toàn tổ chức (31% so với 24%). Bằng cách chuyển hóa những kinh nghiệm của từng cá nhân thành năng lực chung của tổ chức, các doanh nghiệp tiên phong đang xây dựng những hệ thống học hỏi có khả năng mở rộng, giúp tri thức được tích lũy liên tục và tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

Khi AI đang dần trở thành công cụ thực thi công việc, lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về những tổ chức biết tái thiết kế cách thức công việc được vận hành và trao quyền cho nhân viên học hỏi, thích nghi và dẫn dắt sự thay đổi cùng AI. Để hiện thực hóa điều đó, doanh nghiệp cần xây dựng môi trường làm việc nơi con người và AI có thể phối hợp hiệu quả, được hỗ trợ bởi dữ liệu kết nối xuyên suốt và các cơ chế quản trị rõ ràng.

PV/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/thuc-hien-nghi-quyet-57/lao-dong-viet-nam-da-san-sang-cho-ky-nguyen-ai-20260624105436169.htm