Lên Tà Xùa uống trà Shan tuyết

Trà Shan tuyết cổ thụ mọc trên những ngọn núi cao, trải dài từ Đông Bắc qua Tây Bắc. Mỗi vùng thổ nhưỡng khác biệt, hương vị trà cũng vì thế mà có nhiều biến đổi. Trà từ phía Đông như Quản Bạ, Tây Côn Lĩnh, Hoàng Su Phì của Hà Giang thiên về vị ngọt, chuyển qua cực Tây với Tủa Chùa của Điện Biên sẽ nồng nàn đắng chát, trục giữa có vùng trà cổ thụ ở Tà Xùa (Sơn La), lại mang sự cân bằng hoàn hảo ở cả hương - vị trong nội chất trà.

Xứ sở của trà và mây

Tà Xùa sở hữu vùng trà rộng lớn quanh bản làng người HMông, được công nhận là quần thể Cây di sản. Trà cổ thụ ở Tà Xùa chủ yếu thuộc giống trà Shan Tuyết, với những búp non có màu trắng xám đặc trưng. Khi sơ chế và sấy khô, trên bề mặt của những cánh trà Shan Tuyết cổ thụ luôn được phủ một lớp phấn trắng, nhỏ li ti giống như tinh thể tuyết.

Đặc sản của Tà Xùa là mây. Mây quấn quýt trên những ngọn cây, trôi qua những thung lũng, qua những cánh rừng trà. Nhờ vậy cây trà Tà Xùa được tắm trong không gian thanh khiết của đất trời, gió sương, của thiên nhiên hùng vĩ kết hợp dưỡng chất từ lớp đất đá giàu mỏ quặng, khoáng sản.

Những cây chè cổ thụ đã làm thay đổi cuộc sống của người dân Tà Xùa.

Những cây chè cổ thụ đã làm thay đổi cuộc sống của người dân Tà Xùa.

Bản Bẹ cách trung tâm Tà Xùa 8km, là nơi của những đồi Shan tuyết cổ thụ có tuổi đời từ 200 - 500 năm. Chúng tôi đi leo bộ theo những người Mông diện kiến rừng trà. Hít một hơi thở sâu, như muốn ôm trọn vào lồng ngực nguồn suối mát lành của không khí Tà Xùa, chúng tôi cảm nhận năng lượng bình an của đất trời, thiên nhiên Tà Xùa và của những cây trà cổ thụ nơi đây. Những gốc cây một hai người ôm, ẩn hiện trong mây, trong sương sớm… Trà đang vào kỳ “ngủ đông”, đóng băng toàn bộ vào mùa đông trước khi tiếp tục đâm chồi nảy lộc và sinh sôi khi mùa xuân đến.

Khi những giọt sương đầu mùa xuân ướt đẫm trên cành, người Mông sẽ leo lên từng ngọn cao, hái những búp non mang về chế biến. Mỗi năm chỉ hái được 3 vụ trà, còn lại là thời kỳ trà “ngủ”, chính cơ chế này đã làm nên dư vị khác biệt của trà Shan. Trà và mây, cứ như một sự kết hợp thật hoàn hảo, thú vị, để nhờ ẩm dưỡng của mây núi, phát triển theo thời gian, búp trà khi hái về, cũng nhờ mây núi lên men theo cách rất tự nhiên, hoang dã, nguyên sơ như sự sinh trưởng của cây trà. Nhấp từng ngụm trà - mây Tà Xùa, cảm giác như được nếm trải cả không gian mây núi, cả thời gian từ sự lên men kỳ diệu.

Anh Khánh mang trà Việt đi giới thiệu ở các hội chợ trong và ngoài nước.

Anh Khánh mang trà Việt đi giới thiệu ở các hội chợ trong và ngoài nước.

Lan tỏa di sản trà Việt

Anh Phạm Vũ Khánh, một người gắn bó nhiều năm với Tà Xùa nhớ lại hành trình hơn 20 năm dành cho trà, gắn bó với bà con dân bản…. Trước đây, khi làm trà công nghiệp, nhiều người cho rằng trà có thể giúp người dân xóa đói giảm nghèo. Nhưng anh Khánh có góc nhìn khác hơn, anh mong muốn trà không chỉ xóa đói giảm nghèo, trà còn giúp bà con có công ăn việc làm, nâng cao sinh kế bền vững trên chính quê hương của mình. Anh nhìn thấy những đỉnh núi bát ngát trà Shan Tuyết trên 5 ngọn núi cao phía bắc Việt Nam, những nơi mà “báu vật đánh rơi”, “vàng xanh trên núi” nhưng bà con vẫn rất đói và nghèo…

Anh quyết định chọn Tà Xùa làm vùng nguyên liệu, khi nơi đây chưa có đường, chưa có điện. Người Mông chưa biết nói tiếng Kinh. Có những chặng đường chỉ 20km nhưng phải đi mất hơn 6 tiếng đồng hồ ngoằn ngoèo. Bất đồng ngôn ngữ và quan trọng là người Mông không dễ đặt niềm tin vào một người ở xa đến, họ sẵn sàng ném trà vào mặt, lấy gậy đuổi anh đi… Những ngày đầu khó khăn vì để thay đổi nhận thức và tập quán canh tác của người dân không đơn giản. Họ không quan tâm thế nào là “một tôm hai lá”- (là khi trà đạt đến tuyệt phẩm) mà hái theo thói quen, búp ra đến đâu hái đến đó.

Phải 3 năm trời, ăn ở cùng người dân, sống ở làng nhiều hơn ở phố, học tiếng Mông, dạy người Mông học tiếng Kinh, kiên nhẫn hướng dẫn bà con đi theo nếp của mình, anh Khánh mới được người địa phương tín nhiệm. Họ cảm nhận được tình yêu thông qua mối liên hệ linh thiêng và mật thiết giữa người với cây chè - mối liên hệ mà con người có thể tác động khiến cây chè “vâng lời” theo những cách thức, kỹ thuật hái chè, chăm sóc chè.

Giá chè tăng dần từ 10.000đ/kg ban đầu, lên 40.000/kg, rồi 60.000 -70.000đ/kg… thậm chí 140.000đ/kg đã giúp họ cải thiện cuộc sống. Anh Khánh dựa vào kinh nghiệm chế biến của những người Mông bản địa và kiến thức cơ khí độc đáo của mình để làm ra những chiếc máy sao, ép trà có một không hai. Một nhà máy sản xuất trà quy mô nhỏ được xây dựng ngay ở trung tâm Tà Xùa. Với kinh nghiệm hơn 20 năm làm trà xuất khẩu, kết hợp với phương thức làm trà thủ công truyền thống của người bản địa, anh Khánh đã tìm ra phương thức làm trà cổ thụ giữ được nội chất của trà tốt nhất cho sức khỏe người uống. Anh cùng những người Mông nơi đây làm ra loại trà thuyết phục được cả những giám khảo khó tính nhất thế giới.

Năm 2019, sản phẩm “Bạch trà Thiên” từ cây trà cổ 500 năm tuổi của thương hiệu trà Shanam đoạt Giải Bạc châu Á Thái Bình Dương (không có giải Vàng). “Bạch trà Thiên” là sự kết tinh hài hòa giữa nét đẹp văn hóa thưởng trà của người Việt với thiên nhiên, với núi rừng Tây Bắc, được sản xuất từ búp chè Shan Tuyết cổ thụ 1 tôm, giàu vi chất sau 5 tháng dài ngủ đông, thấm đủ hương vị tinh túy của đất trời.

Những công nhân làm việc trong nhà máy của anh Khánh đều là người Mông có sinh kế bền vững, có lương hàng tháng và được đóng bảo hiểm. Những ngôi nhà lụp xụp đã được thay bằng những mái nhà kiên cố. Cũng nhờ tăng thêm giá trị cho trà, thu nhập ổn định, bà con có vốn mở rộng nuôi trâu bò, bò, đầu tư trang trại rau màu. Từ một xã vùng III đặc biệt khó khăn, nhiều bà con Tà Xùa mua sắm được những tiện nghi đắt tiền như tivi, tủ lạnh, xe máy…

Những công nhân người Mông làm việc ở nhà máy chè Shanam.

Những công nhân người Mông làm việc ở nhà máy chè Shanam.

Người Mông đã làm hồi sinh trà. Và cũng nhờ trà, cuộc sống của họ thay đổi. Mùa Thị Tồng, cô gái Mông tự tin pha trà rót nước mời khách vừa hồ hởi kể chuyện. Bây giờ, Tồng đã là tổng quản xưởng Trà Mây Tà Xùa cùng Mùa A Sênh và Mùa A Vừa. Mới ngày nào, khi anh Khánh lên đây, cả ba người đều không biết nói tiếng Kinh. Giờ họ đã là chủ nhân của một xưởng trà có tiếng. Giữ vùng nguyên liệu - một vấn đề cốt tử để phát triển tinh hoa trà Việt, anh Khánh đã thực hiện dự án “Phục tráng và phát triển vùng chè Shan Tuyết Tà Xùa”.

200 cây Shan Tuyết cổ ở Tà Xùa cũng đã được lập hồ sơ và công nhận là Cây di sản Việt Nam. Những người Mông được vợ chồng anh Khánh “truyền lửa”, họ hiểu giá trị của cây trà, biết chăm sóc và bảo vệ nó. Nhiều héc ta trà đã được trồng mới trên núi cao thay cho tập quán đốt rừng làm rẫy của người Mông. Vì thế, bên cạnh những gốc trà cổ thụ hàng trăm năm tuổi, nhiều rừng cây non cũng đang nẩy lộc đâm chồi tạo ra nguồn nguyên liệu bền vững cho trà Shan ở Tà Xùa. Những sản phẩm trà Shan của Shanam đạt chứng nhận OCOP cấp quốc gia, đoạt các giải thưởng quốc tế, đều do người Mông ở Tà Xùa làm. Mô hình ở Tà Xùa đang được nhân rộng sang các vùng trà khác như Sùng Đô, Yên Bái…

“Tôi mong muốn những thức trà này được chính người Việt gìn giữ, trao truyền và tự hào mang ra mời bạn bè thân hữu. Bởi trong mỗi chén trà không chỉ kết tinh tinh hoa của đất trời mà còn là cơm ăn, áo mặc, sinh kế của bà con miền núi. Đó là trà của người Việt, một thức uống có từ ngàn đời, mộc mạc, bình dị nhưng đậm vị sâu. Nó không kiểu cách, cầu kỳ như trà đạo Trung Hoa hay Nhật Bản”. Nhấp một chén trà bên khói sương bảng lảng Tà Xùa, anh Khánh chia sẻ.

Việt Linh

Nguồn ANTG: https://antgct.cand.com.vn/nhan-dam/len-ta-xua-uong-tra-shan-tuyet-i796195/