Liên kết '3 nhà' trong phát triển khoa học công nghệ cần đi vào thực chất

Dù cơ chế, chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ đã được mở rộng, việc đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh vẫn còn nhiều hạn chế. Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) xác định trọng tâm thời gian tới là gắn nhiệm vụ nghiên cứu với nhu cầu doanh nghiệp, đồng tài trợ theo nguồn lực thực góp và đo lường hiệu quả bằng kết quả ứng dụng, thương mại hóa.

Các đại biểu tham dự hội nghị theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.

Các đại biểu tham dự hội nghị theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.

Còn khoảng cách giữa nguồn cung công nghệ và nhu cầu thị trường

Tại Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KHCN ngày 23/10, Thứ trưởng Bộ KHCN Lê Xuân Định đã trình bày báo cáo về thực trạng, điểm nghẽn và giải pháp thúc đẩy liên kết giữa các chủ thể.

Giai đoạn 2021-2025, trong tổng số 1.451 nhiệm vụ KHCN cấp quốc gia được tổng hợp, chỉ có 181 nhiệm vụ do doanh nghiệp chủ trì, chiếm 12,5%. Kinh phí dành cho các nhiệm vụ này chiếm 25,7% tổng kinh phí của nhóm nhiệm vụ được thống kê.

Theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam xếp thứ 24 về hợp tác nghiên cứu và phát triển giữa đại học và doanh nghiệp, trong khi Singapore đứng thứ 8.

Năng lực đầu tư nghiên cứu của khu vực doanh nghiệp cũng còn khoảng cách đáng kể so với một số nền kinh tế. Chi nghiên cứu và phát triển do doanh nghiệp thực hiện của Việt Nam tương đương 0,3% GDP, so với 1,3% của Singapore, 2,1% của Trung Quốc và 4,2% của Hàn Quốc. Nhà nghiên cứu làm việc trong doanh nghiệp chiếm 27,5% tổng số nhà nghiên cứu của Việt Nam.

Những số liệu này cho thấy yêu cầu không chỉ nằm ở việc tăng đầu tư cho KHCN mà còn phải nâng cao năng lực nghiên cứu, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ của doanh nghiệp.

Một chỉ dấu khác là tình trạng mất cân đối giữa nguồn cung và nhu cầu trên thị trường công nghệ. Đến ngày 22/8/2026, các sàn giao dịch KHCN được tổng hợp có khoảng 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ có 750 nhu cầu tìm mua. Từ tháng 1 đến tháng 8/2026, các sàn ghi nhận 72 giao dịch thành công với tổng giá trị 11,233 tỷ đồng.

Các số liệu này chỉ phản ánh phạm vi báo cáo của các sàn giao dịch, chưa bao quát toàn bộ thị trường công nghệ. Dù vậy, khoảng cách giữa số công nghệ chào bán và nhu cầu tìm mua cho thấy hoạt động kết nối cung - cầu vẫn cần được cải thiện đáng kể.

Đại diện các viện trường - UBND các tỉnh trình bày tại hội nghị.

Sáu nhóm giải pháp thúc đẩy thương mại hóa

Theo Bộ KHCN, điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở nguồn vốn mà còn ở cách tổ chức hợp tác.

Doanh nghiệp có thể tham gia quá muộn, khiến yêu cầu về tính năng, giá thành, độ ổn định và khả năng tích hợp chưa được thống nhất ngay từ đầu. Nhiều kết quả nghiên cứu mới dừng ở quy mô phòng thí nghiệm, thiếu dữ liệu vận hành, tiêu chuẩn, chứng nhận và nguồn lực để hoàn thiện công nghệ.

Bên cạnh đó, các bên còn lúng túng trong định giá, xác định quyền khai thác và chia sẻ lợi ích. Tâm lý e ngại trách nhiệm khiến một số tổ chức chưa mạnh dạn thực hiện quyền tự chủ; doanh nghiệp cũng thiếu thông tin tin cậy về công nghệ, chuyên gia, thiết bị và khả năng chuyển giao.

Trước thực tế này, Bộ KHCN xác định sáu nhóm giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp xuyên suốt từ xác định bài toán, nghiên cứu, phát triển công nghệ đến thương mại hóa và mở rộng thị trường. Các nhiệm vụ cần gắn với nhu cầu sử dụng rõ ràng, cam kết tiếp nhận và nguồn lực khả thi.

Thứ hai, triển khai thực chất các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia nhiệm vụ khoa học, công nghệ; tháo gỡ vướng mắc về lập dự toán, vốn đối ứng, khoán chi, mua sắm, thanh toán, thuế và tài sản. Bộ cũng đề xuất nghiên cứu cơ chế ngân sách nhà nước đồng tài trợ theo tỷ lệ kinh phí doanh nghiệp thực góp đối với nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng do doanh nghiệp đặt hàng.Thứ ba, phát triển hệ sinh thái liên kết viện, trường và doanh nghiệp, củng cố các đầu mối chuyên nghiệp về chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, định giá, pháp lý và thị trường. Sàn giao dịch khoa học và công nghệ quốc gia cần được phát triển thành nền tảng kết nối các sàn địa phương, cung cấp thông tin đáng tin cậy về công nghệ, chuyên gia và hạ tầng nghiên cứu.

Thứ tư, xây dựng nhiệm vụ khoa học, công nghệ từ bài toán thực tiễn, với sự tham gia xuyên suốt của doanh nghiệp. Ngay từ đầu, các bên cần xác định mục tiêu, chỉ tiêu kỹ thuật, sản phẩm, địa điểm thử nghiệm, đơn vị tiếp nhận và phương án chuyển giao. Quá trình nghiên cứu cần được đánh giá theo từng mốc để quyết định tiếp tục, điều chỉnh hoặc dừng phù hợp.

Thứ năm, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển thị trường khoa học, công nghệ. Việc xác định quyền sở hữu, quyền khai thác, trách nhiệm đầu tư hoàn thiện và phương án phân chia lợi ích cần được thực hiện từ khi hình thành hợp tác. Đồng thời, cần hỗ trợ kiểm định, chứng nhận, sản xuất thử và kết nối khách hàng đầu tiên cho sản phẩm mới.

Thứ sáu, xây dựng hệ thống 10 chỉ số đo lường kết quả liên kết. Thay vì chỉ đánh giá qua số nhiệm vụ hoặc số biên bản ghi nhớ, việc đánh giá sẽ hướng tới nguồn lực tài chính, nhân lực, thu nhập từ hợp đồng nghiên cứu, doanh thu chuyển giao, vốn doanh nghiệp thực góp và giá trị mua sắm công đối với sản phẩm khoa học, công nghệ mới trong nước.

Theo lộ trình đề xuất, năm 2026 xác định số liệu cơ sở; năm 2027 thí điểm thu thập các chỉ số mới và từ năm 2028 công bố định kỳ trong Sách trắng Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam.

Đưa chính sách vào thực tế

Cùng với các giải pháp chuyên môn, Bộ KHCN nhấn mạnh yêu cầu chuyển các cơ chế đã ban hành thành quy trình thực hiện cụ thể, công khai điều kiện hỗ trợ, hồ sơ, thời hạn và đầu mối giải quyết vướng mắc.

Các bộ, ngành, địa phương cần xây dựng danh mục bài toán công nghệ; doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, có thể tham gia đặt hàng, thử nghiệm và trở thành khách hàng đầu tiên của sản phẩm mới. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp thúc đẩy hợp tác trong đào tạo, nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu doanh nghiệp; Bộ Tài chính hướng dẫn các vấn đề liên quan đến đặt hàng, mua sắm công và chia sẻ dữ liệu phục vụ đánh giá.

Định hướng xuyên suốt là xác lập rõ vai trò của từng chủ thể: Nhà nước kiến tạo điều kiện, hỗ trợ và chia sẻ rủi ro theo quy định; viện, trường phát triển giải pháp công nghệ; doanh nghiệp xác định nhu cầu, cùng đầu tư, tiếp nhận và thương mại hóa.

Khi sự phối hợp được duy trì từ khâu hình thành bài toán đến ứng dụng thực tế, kết quả nghiên cứu mới có cơ hội chuyển thành sản phẩm, nâng cao năng suất và năng lực tự chủ công nghệ của nền kinh tế.

Thu Hương

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/lien-ket-3-nha-trong-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-can-di-vao-thuc-chat.html