Lòng dân mở lối xây trường biên cương

Ở vùng đất phên giậu, con đường đến trường của trẻ em chưa bao giờ dễ dàng. Xuất phát từ thực tiễn đó, chủ trương xây dựng trường học ở khu vực biên giới được Bộ Chính trị xác định không chỉ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, mà còn mang ý nghĩa chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước theo tinh thần 'Cả nước hướng về biên cương, vì tương lai con em đồng bào các dân tộc'.

Loạt bài “Lòng dân mở lối xây trường biên cương” phản ánh những nỗ lực bền bỉ, quyết tâm của cả hệ thống chính trị và người dân trong hành trình đưa tri thức đến với vùng biên. Đó cũng là minh chứng sinh động cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khi ý Đảng hòa cùng lòng dân, biến những điều tưởng chừng khó thành hiện thực, góp phần xây dựng biên cương ngày càng vững mạnh.

Bài 1: Con chữ qua núi đá

Ở những bản làng cheo leo nơi cực Bắc Tổ quốc, con đường đến trường không chỉ là hành trình vượt núi, mà còn vượt qua cái nghèo, những hủ tục đã ăn sâu trong nếp nghĩ và khoảng trống tri thức kéo dài từ đời này sang đời khác. Dẫu vậy, khát vọng học tập chưa bao giờ tắt, mà còn được thắp sáng trên miền biên viễn của Tổ quốc.

Muôn vàn gian khó

Khi màn sương còn giăng kín những triền núi đá tai mèo sắc nhọn, cậu bé Sùng Xín Duy, học sinh lớp 3, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Nghĩa Thuận đã khoác chiếc cặp sách sờn quai, cất giọng trong trẻo lễ phép chào người thân đi học.

Từ ngôi nhà nhỏ của Duy ở thôn Na Cho Cai đến lớp học khoảng 2 km. Mỗi ngày, Duy cùng em gái và các bạn trong bản đều lặn lội bốn lượt đi, về. Mùa Đông, gió lạnh len qua từng vạt áo mỏng. Mùa mưa, có những đoạn đường trơn trượt, các em phải nắm chặt tay nhau, dò dẫm từng bước để tránh bị ngã.

Đứng trước hiên nhà, bà nội của Duy là bà Đặng Thị Hoàn, dân tộc Hán và thím là chị Hờ Thị Dính, dân tộc Mông vẫn dõi theo bóng cậu bé khuất dần sau lưng núi. Trong gia đình đa thế hệ, bà Hoàn và chị Dính đều chưa từng được đến trường. Chính vì chịu nhiều thiệt thòi bởi thiếu con chữ, nên cả hai người phụ nữ dường như rất dặt dè, nhút nhát, ngại tiếp xúc với người lạ.

Có một thời ở không ít bản làng biên giới, tiếng trống trường còn là điều xa lạ. Trẻ em lớn lên cùng nương ngô, theo cha mẹ lên rẫy từ khi còn nhỏ thay vì đến lớp. Nhiều người trưởng thành vẫn không biết đọc, biết viết, không thể tự ký tên mình hay tiếp cận đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Thiếu tri thức đồng nghĩa với thiếu cơ hội phát triển, khiến cái nghèo và sự lạc hậu cứ nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Gia đình anh Lù Dỉ Pó, thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú mong mỏi con em vùng biên có một ngôi trường nội trú khang trang.

Gia đình anh Lù Dỉ Pó, thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú mong mỏi con em vùng biên có một ngôi trường nội trú khang trang.

Theo thống kê của ngành Giáo dục và Đào tạo, dù tỉnh đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác xóa mù chữ, đến nay, ở nhóm tuổi từ 15 đến 25, tỷ lệ biết chữ đạt 98,87% ở mức độ 1 và 97,34% ở mức độ 2; nhóm tuổi từ 15 đến 35 lần lượt đạt 98,09% và 95,65%. Nhưng khi mở rộng đến nhóm tuổi từ 15 đến 60, tỷ lệ biết chữ giảm còn 95,77% ở mức độ 1 và 87,85% ở mức độ 2. Điều đó cho thấy khoảng cách về điều kiện học tập, trình độ dân trí giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn vẫn còn rất lớn.

Kiên trì bám bản, gieo chữ

Hơn 12 năm trước, trong chuyến đầu tiên lên nhận công tác tại Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Sơn Vĩ, cô giáo Vi Thị Hân, quê ở xã Vị Xuyên, đã vượt gần 200 km bằng xe máy. Con đường một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút, gập ghềnh, trơn trượt khiến chiếc xe nhiều lần chao đảo rồi đổ xuống. Cú ngã đó chính là ký ức khó quên, dấu mốc mở đầu cho hành trình bền bỉ gieo chữ nơi cực Bắc Tổ quốc của cô giáo Hân.

Sơn Vĩ là địa bàn xa xôi nhất của tỉnh, giao thông cách trở, điều kiện sinh hoạt và dạy học còn muôn vàn thiếu thốn. Không ít người khuyên cô xin chuyển về gần gia đình, nhưng cô đã chọn ở lại. Chấp nhận xa chồng, tự tay chăm sóc 2 đứa con nhỏ ở khu tập thể của nhà trường, cô dành trọn tâm sức cho học trò vùng biên. Với cô, tình yêu nghề và ánh mắt trong veo, khát khao được học của những đứa trẻ nơi đây chính là động lực để vượt qua mọi khó khăn.

Đến nay, vùng đất này không còn đơn thuần là nơi công tác, mà đã trở thành quê hương thứ hai của cô. Cũng như nhiều thầy, cô giáo đang ngày đêm bám bản, cô thuộc từng nếp nhà, hiểu hoàn cảnh của từng học sinh; biết em nào có nguy cơ bỏ học, gia đình nào còn chật vật vì cái nghèo, gia đình nào vẫn chưa thực sự nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của việc học. Chính sự thấu hiểu đã giúp những người giáo viên nơi biên cương không chỉ dạy chữ, mà còn kiên trì gieo niềm tin về một tương lai đổi thay bằng con đường học tập.

Điều khiến cô Hân cũng như nhiều giáo viên luôn trăn trở không phải là những thiếu thốn của bản thân, mà là nhìn học trò phải đánh đổi quá nhiều để được học cái chữ. Có em thức dậy từ khi trời chưa sáng, đi bộ vượt núi, lội đèo hơn 4 km để kịp đến lớp. Có em nhiều năm liền là học sinh khá như em Thò Thị Sinh, thôn Lùng Thúng từng đứng trước nguy cơ nghỉ học vì gia đình không đủ điều kiện. Cũng có những đứa trẻ lặng lẽ gác lại sách vở để theo cha mẹ lên nương, bởi cái nghèo chưa cho phép các em đi tiếp.

“Mỗi lần nghe tin có học sinh nghỉ học, tôi không thể ngồi yên”, cô Hân chia sẻ. Sau mỗi buổi dạy, cô cùng đồng nghiệp lại tìm đến từng gia đình, kiên trì vận động phụ huynh cho con trở lại trường. Có những cuộc trò chuyện chỉ diễn ra vài chục phút, nhưng cũng có gia đình phải nhiều lần thuyết phục mới đồng ý. Với các thầy, cô, chỉ cần thêm một học sinh trở lại lớp cũng đồng nghĩa với việc giữ lại thêm một cơ hội để thay đổi tương lai.

Từng đó năm bám bản, cô hạnh phúc nhất là chứng kiến học trò trưởng thành. Những đứa trẻ từng ê a đánh vần trong lớp học đơn sơ ngày nào, nay có em trở thành giáo viên, cán bộ xã, bác sĩ; có em tốt nghiệp đại học rồi trở về xây dựng chính quê hương mình.

Những ước mơ vượt núi

Những năm gần đây, cùng với quyết tâm của cả thống chính trị, sự bền bỉ của những người thầy, người cô cắm bản, nhận thức của đồng bào về vai trò của giáo dục đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nếu trước kia không ít gia đình coi việc học là thứ yếu thì nay, nhiều ông bố, bà mẹ chưa từng biết đọc, biết viết lại luôn đau đáu một mong ước, con mình phải được học hành đến nơi đến chốn, phải có cơ hội bước ra khỏi vòng luẩn quẩn của nghèo khó.

Gia đình anh Lù Dỉ Pó, thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú là một trong số đó. Hiện 6 đứa con của anh đều đang trong độ tuổi đến trường. Mỗi năm học mới là thêm một gánh nặng, nhưng chưa bao giờ vợ chồng anh nghĩ đến chuyện cho con nghỉ học. Anh bảo: “Mình không đi học đầy đủ nên khổ nhiều rồi. Có nghèo mấy cũng phải cho các con đi học, sau này mới có cuộc sống tốt hơn”.

Cũng như anh Pó, điều người dân vùng biên mong mỏi không chỉ là những lớp học kiên cố, mà còn là một ngôi trường nội trú đủ điều kiện để con em không còn phải băng rừng, vượt núi hàng chục km mỗi ngày; có nơi ăn, chốn ở an toàn để yên tâm học tập và nuôi dưỡng những ước mơ lớn hơn sau những dãy núi đá nơi địa đầu Tổ quốc.

Theo báo cáo tại Đề án phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, giáo dục vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực biên giới vẫn đứng trước nhiều thách thức. Toàn tỉnh mới có 70,7% phòng học được kiên cố hóa, thấp hơn mức bình quân cả nước (89,6%); 1.803 điểm trường lẻ vẫn phân tán; nhiều trường còn thiếu phòng học bộ môn, khu nội trú, bán trú, nhà công vụ giáo viên và trang, thiết bị dạy học.

Chính từ thực tiễn ấy, chủ trương đầu tư xây dựng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại các xã biên giới đã nhanh chóng nhận được sự đồng thuận của Nhân dân. Song để hiện thực hóa khát vọng là điều không hề dễ dàng. Giữa vùng núi đá tai mèo, việc sẵn một quỹ đất đủ rộng để xây dựng trường học là điều không hề đơn giản. Từ chính thử thách ấy, những câu chuyện đẹp về sự đồng thuận, hiến đất, góp công của đồng bào các dân tộc bắt đầu được viết nên, mở ra hành trình dân vận đầy ý nghĩa nơi miền phên giậu của Tổ quốc.

(Còn nữa)

Bài, ảnh: Trần Liên, Minh Hoa, Huy Hoàng, Mộc Lan

Nguồn Tuyên Quang: http://baotuyenquang.com.vn/xa-hoi/202607/long-dan-mo-loi-xay-truong-bien-cuong-5f17737/