Luật Dân số 2025: Tư duy mới về vai trò của dân số trong phát triển đất nước
Chuyên gia pháp luật cho rằng, điểm nổi bật nhất của Luật Dân số 2025 là sự thay đổi tư duy chính sách, từ trọng tâm kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển.

Theo luật sư Đào Tiến Phong, làm thế nào để tuổi thọ tăng đi cùng với số năm sống khỏe mạnh, khả năng tự chủ và chất lượng cuộc sống ở người cao tuổi. Ảnh: Nguyễn Vũ Đạt
Điểm mới mang tính bước ngoặt của Luật Dân số 2025
So với Pháp lệnh Dân số 2023, Luật Dân số 2025 có nhiều điểm mới mang tính bước ngoặt trong bối cảnh hiện tại. Sự thay đổi này đã có ý nghĩa tích cực trong tư duy chính sách, từ trọng tâm kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển.
"Đây không đơn giản chỉ là việc nâng cấp một pháp lệnh thành luật, mà còn phản ánh sự thay đổi trong cách Nhà nước nhìn nhận vai trò của dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước", luật sư Đào Tiến Phong, Đoàn Luật sư TPHCM, Luật sư điều hành Hãng luật Investpush Legal đưa ý kiến.
Theo luật sư Đào Tiến Phong, Pháp lệnh Dân số số 06/2003/PL-UBTVQH11 được ban hành trong bối cảnh Việt Nam cần kiểm soát tốc độ gia tăng dân số, ổn định quy mô gia đình và nâng cao chất lượng cuộc sống. Mặc dù Pháp lệnh đã đề cập đến quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số, nhưng trong thực tiễn, kế hoạch hóa gia đình và điều chỉnh mức sinh vẫn là những nội dung trọng tâm của chính sách dân số.
Tuy nhiên, sau hơn 2 thập niên, bối cảnh đã có nhiều thay đổi. Việt Nam đang phải đối diện đồng thời với tình trạng mức sinh giảm tại nhiều địa phương, mất cân bằng giới tính khi sinh và đã bước vào giai đoạn dân số già. Đây không còn đơn thuần là những vấn đề về nhân khẩu học mà có thể tác động trực tiếp đến thị trường lao động, hệ thống an sinh xã hội và triển vọng tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Và người ta đã bắt đầu gọi nên kinh tế Việt Nam là "nền kinh tế bạc"
Luật sư Đào Tiến Phong phân tích: "Nhìn sang Nhật Bản và Hàn Quốc, chúng ta có thể thấy rõ những thách thức này. Theo số liệu chính thức của Nhật Bản, năm 2025, người từ 65 tuổi trở lên chiếm khoảng 29,4% dân số. Trong khi đó, Hàn Quốc cũng đã bước vào giai đoạn xã hội siêu già, với tỷ lệ người cao tuổi đạt khoảng 20% dân số. Đáng chú ý, tổng tỷ suất sinh của Hàn Quốc năm 2025 chỉ đạt khoảng 0,8 con/phụ nữ, dù đã có sự cải thiện so với năm trước.
Những diễn biến này cho thấy khi mức sinh thấp kéo dài và tuổi thọ tăng, một quốc gia có thể phải đối diện với sự thu hẹp lực lượng lao động, gia tăng nhu cầu chăm sóc người cao tuổi và áp lực ngày càng lớn đối với hệ thống hưu trí, y tế và bảo hiểm xã hội. Điều này đối với nước ta là cực kỳ đáng quan ngại vì GDP bình quân đầu người chưa cao".

Luật sư Đào Tiến Phong. Ảnh: NVCC
Trong bối cảnh đó, Luật Dân số số 113/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, đã xác lập bốn nhóm chính sách trọng tâm gồm duy trì mức sinh thay thế, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, thích ứng với già hóa dân số và nâng cao chất lượng dân số.
"Tôi cho rằng điểm tiến bộ ở đây là chính sách dân số không còn chỉ quan tâm đến việc có bao nhiêu người được sinh ra, mà còn chú trọng đến chất lượng nguồn nhân lực, cơ cấu dân số và điều kiện sống của con người trong từng giai đoạn cuộc đời. Bài học từ Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy những thay đổi về dân số thường diễn ra trong thời gian dài, nhưng khi hệ quả đã bộc lộ rõ thì việc đảo ngược xu hướng không hề dễ dàng. Vì vậy, tôi đánh giá cao việc chứng ta đã chủ động xây dựng chính sách từ sớm, thay vì chờ đến khi thiếu hụt lao động hoặc hệ thống an sinh chịu áp lực lớn mới tìm giải pháp", luật sư Đào Tiến Phong cho biết.
Luật Dân số 2025 đã có nhiều chính sách khuyến khích sinh con nhằm duy trì mức sinh thay thế. Theo chuyên gia pháp luật, các chính sách khuyến khích sinh con trong Luật Dân số năm 2025 là cần thiết, nhưng cần nhìn nhận đây là một phần của giải pháp tổng thể, chứ không phải biện pháp có thể giải quyết ngay tình trạng mức sinh thấp.
Điều 14 Luật Dân số năm 2025 quy định nhiều biện pháp nhằm duy trì mức sinh thay thế, trong đó có việc tăng thời gian nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai, hỗ trợ tài chính đối với một số nhóm phụ nữ và ưu tiên tiếp cận nhà ở xã hội đối với người có từ hai con đẻ trở lên theo quy định pháp luật. Những chính sách này thể hiện sự chuyển đổi đáng chú ý: từ việc chủ yếu định hướng số con trong mỗi gia đình sang tạo điều kiện để người dân có thể thực hiện nguyện vọng sinh con và nuôi dạy con.
Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc nâng mức sinh là vấn đề rất phức tạp. Hàn Quốc là một ví dụ điển hình. Mặc dù quốc gia này đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ sinh con, chăm sóc trẻ em và hỗ trợ gia đình, tổng tỷ suất sinh vẫn ở mức rất thấp. Năm 2024, tỷ suất sinh của Hàn Quốc là 0,75 con/phụ nữ và năm 2025 tăng lên khoảng 0,8 con/phụ nữ, vẫn thấp xa so với mức sinh thay thế khoảng 2,1 con/phụ nữ.
Một trong những vấn đề được đặt ra tại Hàn Quốc là chi phí nhà ở, giáo dục, áp lực cạnh tranh trong công việc và những khó khăn trong việc cân bằng giữa sự nghiệp với trách nhiệm chăm sóc gia đình. Điều này cho thấy quyết định sinh con không chỉ phụ thuộc vào các khoản hỗ trợ tài chính, mà còn chịu tác động của môi trường kinh tế, xã hội và điều kiện sống.
Nhật Bản cũng đối diện với những khó khăn tương tự. Khi dân số trong độ tuổi lao động thu hẹp, quốc gia này phải tìm cách nâng cao năng suất, ứng dụng công nghệ, thu hút lao động và khuyến khích người cao tuổi tiếp tục tham gia thị trường lao động. Đồng thời, việc duy trì các dịch vụ công tại những địa phương dân số suy giảm cũng trở thành một thách thức.
"Từ những kinh nghiệm đó, tôi cho rằng, chính sách khuyến sinh cần được triển khai đồng bộ với chính sách nhà ở, việc làm, giáo dục, chăm sóc trẻ em và bảo đảm bình đẳng giới. Đặc biệt, cần tạo điều kiện để phụ nữ không phải lựa chọn giữa việc sinh con và phát triển nghề nghiệp. Nếu việc mang thai, sinh con và chăm sóc con nhỏ tiếp tục trở thành bất lợi đối với cơ hội việc làm, thu nhập và thăng tiến, thì những chính sách hỗ trợ tài chính đơn lẻ khó có thể tạo ra tác động bền vững", luật sư Phong lập luận.
Mặt khác, cũng cần nhận thức rằng ngay cả khi mức sinh được cải thiện trong những năm tới, điều đó không thể lập tức giải quyết tình trạng già hóa dân số. Những trẻ em được sinh ra hôm nay phải mất nhiều năm mới có thể gia nhập lực lượng lao động.
Vì vậy, cần thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: tạo điều kiện duy trì mức sinh thay thế trong dài hạn và chủ động thích ứng với những thay đổi về cơ cấu dân số đang diễn ra. Mục tiêu của chính sách không phải là tạo áp lực buộc người dân sinh thêm con, mà là tháo gỡ những rào cản khiến các gia đình không thể thực hiện nguyện vọng sinh con của mình.
Thích ứng với già hóa dân số
Luật Dân số 2025 dành riêng Chương IV về thích ứng với già hoá dân số. Theo sự phân tích của luật sư Đào Tiến Phong, điểm đáng chú ý là Luật không chỉ tập trung vào việc chăm sóc người đã cao tuổi, mà còn đặt ra yêu cầu chuẩn bị cho tuổi già ngay từ khi còn trẻ, thông qua việc chủ động bảo vệ sức khỏe, chuẩn bị tài chính, kiến thức, kỹ năng và tham gia các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Để thấy rõ ý nghĩa của quy định này, có thể nhìn vào thực tiễn của Nhật Bản.
Theo số liệu năm 2025, gần 3 trong 10 người dân Nhật Bản đã từ 65 tuổi trở lên. Cùng với quá trình già hóa, quốc gia này phải đối diện với nhiều vấn đề như thiếu hụt lao động trong một số ngành nghề, nhu cầu chăm sóc dài hạn tăng cao, áp lực đối với hệ thống y tế, hưu trí và sự suy giảm dân số tại nhiều địa phương.

Mưu sinh trên phố. Ảnh: Giản Thanh Sơn
Một hệ lụy đáng chú ý là tình trạng người cao tuổi sống 1 mình ngày càng đặt ra nhiều yêu cầu về chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ sinh hoạt và kết nối cộng đồng. Khi quy mô gia đình thu hẹp, mô hình chăm sóc người cao tuổi chủ yếu dựa vào con cháu cũng gặp nhiều giới hạn. Hàn Quốc đang đứng trước những thách thức tương tự. Theo dự báo của cơ quan thống kê nước này, nếu xu hướng nhân khẩu học tiếp diễn theo các giả định dự báo, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên có thể đạt khoảng 47,7% dân số vào năm 2072. Điều đó đồng nghĩa với việc cơ cấu dân số và mối quan hệ giữa các thế hệ có thể thay đổi rất lớn.
Khi tỷ lệ người trong độ tuổi lao động giảm so với người cao tuổi, áp lực không chỉ đặt lên hệ thống hưu trí và y tế, mà còn ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách, khả năng duy trì dịch vụ công và sự phát triển của nền kinh tế. Đồng thời, những người trẻ có thể phải gánh vác trách nhiệm tài chính và chăm sóc lớn hơn đối với các thành viên cao tuổi trong gia đình.
"Tuy nhiên, tôi cho rằng không nên nhìn nhận già hóa dân số chỉ như 1 gánh nặng. Tuổi thọ tăng là thành tựu quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội và tiến bộ y học. Vấn đề cốt lõi là làm thế nào để tuổi thọ tăng đi cùng với số năm sống khỏe mạnh, khả năng tự chủ và chất lượng cuộc sống", luật sư Đào Tiến Phong nói.
Nâng cao chất lượng dân số
Bên cạnh chính sách duy trì mức sinh thay thế và thích ứng với già hoá dân số, Chương V Luật Dân số 2025 còn dành nhiều quy định về nâng cao chất lượng dân số.
"Theo tôi, nếu chính sách duy trì mức sinh thay thế nhằm giải quyết vấn đề quy mô dân số trong tương lai, chính sách thích ứng với già hóa dân số nhằm ứng phó với sự thay đổi cơ cấu độ tuổi, thì các quy định về nâng cao chất lượng dân số chính là nền tảng để bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước", chuyên gia pháp luật phân tích.
Chương V Luật Dân số năm 2025, từ Điều 20 đến Điều 22, quy định về tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn; sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh; chăm sóc sức khỏe sinh sản. Đáng chú ý, Luật không chỉ khuyến khích người dân chủ động tiếp cận các dịch vụ này mà còn đặt ra cơ chế hỗ trợ kinh phí đối với một số hoạt động sàng lọc từ ngân sách nhà nước, bảo hiểm y tế và các nguồn hợp pháp khác theo lộ trình, điều kiện luật định.
Luật sư Phong cho rằng, đây là bước chuyển đáng ghi nhận từ cách tiếp cận chủ yếu chú trọng số lượng dân số sang đầu tư cho sức khỏe và chất lượng con người ngay từ những giai đoạn đầu đời. Việc tư vấn sức khỏe trước kết hôn, chăm sóc sức khỏe sinh sản và sàng lọc trước sinh, sơ sinh có thể góp phần phát hiện sớm một số nguy cơ sức khỏe, tạo điều kiện can thiệp y tế kịp thời và giảm gánh nặng bệnh tật trong tương lai.
Là nghiên cứu sinh chuyên ngành Pháp luật về Quyền con người tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, luật sư Đào Tiến Phong đưa ý kiến: "Tôi cho rằng việc nâng cao chất lượng dân số phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng quyền tự quyết, quyền riêng tư và sự bình đẳng của mỗi cá nhân.
Điều 22 Luật Dân số năm 2025 ghi nhận quyền tiếp cận đầy đủ, bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, cũng như quyền tự quyết định các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản trên cơ sở hiểu biết và tự nguyện. Đây là nguyên tắc rất quan trọng.
Hoạt động tư vấn, khám sức khỏe trước kết hôn hoặc sàng lọc trước sinh, sơ sinh phải nhằm cung cấp thông tin, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe và tạo điều kiện để người dân đưa ra quyết định phù hợp, chứ không được trở thành công cụ gây áp lực đối với quyền kết hôn, sinh con hoặc lựa chọn sinh sản của cá nhân"
Đặc biệt, khái niệm nâng cao chất lượng dân số cần được hiểu đúng là nâng cao các điều kiện về sức khỏe, thể chất, trí tuệ và tinh thần của con người, chứ không phải đánh giá giá trị của một cá nhân dựa trên tình trạng sức khỏe, đặc điểm di truyền hay tình trạng khuyết tật.
Quyền quyết định thời gian sinh, số con và khoảng cách giữa các lần sinh
Luật Dân số năm 2025 tiếp tục ghi nhận quyền của cá nhân, cặp vợ chồng trong việc quyết định thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh; đồng thời nghiêm cấm các hành vi cưỡng bức, ép buộc sinh con hoặc không sinh con.
Luật sư Đào Tiến Phong đưa ý kiến: "Tuy nhiên, tôi xin lưu ý rằng quyền quyết định số con không phải đến Luật Dân số năm 2025 mới được ghi nhận. Pháp lệnh Dân số năm 2003 và các văn bản sửa đổi đã từng bước điều chỉnh nội dung này. Điểm đáng chú ý của Luật mới là tiếp tục khẳng định quyền tự quyết sinh sản trong một khuôn khổ chính sách toàn diện hơn, gắn với các biện pháp hỗ trợ sinh con, chăm sóc sức khỏe sinh sản và nâng cao chất lượng dân số.
Việc thực thi Luật Dân số 2025 cần quán triệt nguyên tắc lấy con người làm trung tâm. Điều đó có nghĩa là hiệu quả chính sách không chỉ được đánh giá bằng các chỉ tiêu về mức sinh, tuổi thọ hay cơ cấu dân số, mà còn phải được đo bằng mức độ bảo đảm quyền, chất lượng cuộc sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân. Tôi cho rằng đây cũng chính là thông điệp quan trọng nhất của Luật Dân số 2025".

