Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt: Đổi mới tư duy kiểm soát phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt qua phương thức đánh giá rủi ro

Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Luật số 13/2026/QH16) được thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đánh dấu bước chuyển mình quan trọng về tư duy quản trị an ninh quốc gia trong thời kỳ mới. Trọng tâm của bước chuyển dịch ấy là việc luật hóa phương thức quản lý, kiểm soát dựa trên đánh giá rủi ro - một công cụ điều tiết sắc bén, hiện đại, giúp Nhà nước chuyển từ phương thức tiền kiểm hành chính diện rộng sang kiểm soát chính xác, linh hoạt và thực chất.

Từ thách thức của quản trị an ninh công nghệ cao đến tất yếu đổi mới phương thức kiểm soát

Kiểm soát phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt trong bối cảnh hiện nay đối mặt với những bài toán hoàn toàn khác biệt so với các giai đoạn trước đây. Sự bùng nổ của các ngành công nghệ mới nổi, từ công nghệ sinh học tổng hợp, hóa chất tiên tiến, hạt nhân dân sự, vật liệu nano bán dẫn đến các phương tiện bay không người lái (UAV), đã khiến đường biên giữa ứng dụng dân sự thuần túy và ứng dụng chế tạo vũ khí trở nên cực kỳ mong manh.

Phần lớn các cấu phần, vật liệu, tiền chất và phần mềm nhạy cảm đều là hàng hóa lưỡng dụng. Chúng xuất hiện hằng ngày trong các chuỗi cung ứng công nghiệp, năng lượng, dây chuyền sản xuất vi mạch bán dẫn, cơ sở y tế điều trị ung thư, trung tâm nghiên cứu vaccine và các phòng thí nghiệm đại học. Các mạng lưới mua sắm bất hợp pháp quốc tế ngày nay hiếm khi lộ diện trực tiếp mà triệt để lợi dụng chuỗi cung ứng mở, công ty bình phong và các kênh thanh toán số nhiều tầng nấc nhằm phân tán giao dịch.

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh điều hành nội dung thông qua Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Khánh Duy

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh điều hành nội dung thông qua Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Khánh Duy

Trước bối cảnh đó, nếu các cơ quan chức năng tiếp tục duy trì tư duy quản lý theo kiểu “tiền kiểm cơ học”, áp đặt thủ tục cấp phép đồng loạt và thanh tra cào bằng, hệ thống sẽ rơi vào thế bế tắc: một mặt bộc lộ sơ hở trước các thủ đoạn ngụy trang công nghệ tinh vi; mặt khác lại tạo ra sức cản nặng nề về chi phí thủ tục, làm chậm luồng thông quan hàng hóa và cản trở hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo.

Chính vì vậy, khoản 2 Điều 4 của Luật số 13/2026/QH16 đã xác lập một nguyên tắc chỉ đạo then chốt: “Lấy phòng ngừa là chính; chủ động phát hiện, cảnh báo sớm, ngăn chặn, xử lý kịp thời nguy cơ, hành vi phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; thực hiện quản lý, kiểm soát trên cơ sở đánh giá rủi ro”. Đánh giá rủi ro không chỉ là một công cụ kỹ thuật đơn thuần, mà đã trở thành nguyên lý vận hành cốt lõi của toàn bộ hệ thống thể chế phòng ngừa phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Chuẩn hóa bộ tiêu chí đánh giá rủi ro quốc gia

Lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam, một quy trình toàn diện về quản lý rủi ro quốc gia trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống được luật hóa đồng bộ tại Điều 10 và Điều 11 của Luật. Đánh giá rủi ro quốc gia là quy trình thu thập, xử lý dữ liệu và lượng hóa rủi ro định kỳ 5 năm một lần, đồng thời được rà soát cập nhật hằng năm hoặc đột xuất khi xuất hiện nguy cơ công nghệ mới hoặc theo yêu cầu của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.

Điểm nổi bật là Luật đã chuẩn hóa cấu trúc đánh giá rủi ro theo chuẩn mực quốc tế tiệm cận các khuyến nghị của Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính quốc tế (FATF) và Ủy ban 1540 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, thông qua ma trận tương quan giữa 3 nhóm tiêu chí:

Thứ nhất, nhóm tiêu chí nguy cơ (Khoản 2 Điều 11): Tập trung nhận diện bản chất của các chủ thể, hàng hóa lưỡng dụng, phần mềm, công nghệ nhạy cảm; xu hướng công nghệ mới nổi; các tuyến vận chuyển logistics, chuỗi cung ứng trung gian, quốc gia rủi ro cao và các cảnh báo sớm từ mạng lưới an ninh quốc tế.

Thứ hai, nhóm tiêu chí mức độ dễ bị tổn thương (Khoản 3 Điều 11): Rà soát những điểm nghẽn trong hệ thống quy trình nghiệp vụ, cơ chế phối hợp liên ngành; năng lực kỹ thuật giám sát của lực lượng thực thi công vụ; mức độ phụ thuộc vào hạ tầng công nghệ và hiệu quả vận hành của chương trình tuân thủ nội bộ tại các doanh nghiệp, viện nghiên cứu.

Thứ ba, Nhóm tiêu chí hậu quả tiềm tàng (Khoản 4 Điều 11): Dự báo đa chiều mức độ tác động nếu nguy cơ xảy ra, bao gồm ảnh hưởng đến chủ quyền, an ninh quốc gia, đối ngoại; thiệt hại về tính mạng, sức khỏe nhân dân, môi trường sinh thái, hạ tầng trọng yếu; cũng như các tổn thất về uy tín kinh tế, thương mại và đầu tư quốc tế.

Ma trận đánh giá này là căn cứ khoa học để phân loại rủi ro thành các cấp độ can thiệp tương ứng: những lĩnh vực, giao dịch rủi ro thấp sẽ được giải phóng khỏi gánh nặng tiền kiểm; trong khi các nguồn lực chuyên môn sâu của Nhà nước được tập trung cao độ vào những điểm nóng có nguy cơ rò rỉ hoặc bị lợi dụng cao nhất.

Cơ chế kiểm soát hai tầng đối với hàng hóa lưỡng dụng

Kiểm soát vật liệu, hóa chất, thiết bị và công nghệ lưỡng dụng là trọng tâm khó khăn nhất trong thực thi. Luật số 13/2026/QH16 đã giải quyết bài toán này thông qua thiết kế cơ chế kiểm soát 2 tầng linh hoạt:

Tầng thứ nhất - Danh mục kiểm soát liên thông (Điều 12): Danh mục được xây dựng trên cơ sở kết quả đánh giá rủi ro quốc gia và dữ liệu dẫn chiếu từ danh mục chuyên ngành của các Bộ: Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Y tế, Nông nghiệp và Môi trường,... Danh mục kiểm soát không thay thế pháp luật chuyên ngành mà đóng vai trò bộ lọc dữ liệu tích hợp để phân luồng giám sát liên ngành; đánh giá, nhận diện đúng, trúng mức độ rủi ro.

Tầng thứ hai - Cơ chế bao quát ngoài danh mục (Điều 15): Đây là công cụ pháp lý đột phá giúp đối phó hiệu quả với các hành vi cố tình cải biên thông số kỹ thuật để hàng hóa nằm dưới ngưỡng kiểm soát của danh mục, hoặc sử dụng các linh kiện thông thường để tích hợp thành phương tiện mang vũ khí, hoặc các loại vật liệu, công nghệ mới, chưa được đưa vào diện kiểm soát trước đó. Biện pháp kiểm soát ngoài danh mục được kích hoạt khi có các chỉ báo rủi ro cụ thể:

Một là, có dữ liệu cho thấy người sử dụng cuối cùng, bên thụ hưởng hoặc chủ thể kiểm soát thực tế có liên quan đến danh sách bị chỉ định hoặc hoạt động phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Hai là, mục đích sử dụng hoặc người sử dụng cuối cùng không xác định rõ, có dấu hiệu che giấu, kê khai sai lệch hoặc thay đổi bất thường.

Ba là, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động biết hoặc có căn cứ xác định hàng hóa, công nghệ có thể bị sử dụng cho mục đích vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Bốn là, có thông tin cảnh báo rủi ro cụ thể từ cơ quan có thẩm quyền trong nước hoặc quốc tế.

Đặc biệt, để bảo vệ quyền tự do kinh doanh chính đáng của thương nhân và ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền, Luật quy định thời hạn áp dụng biện pháp tạm dừng hoạt động để xác minh chỉ tối đa 15 ngày (gia hạn một lần không quá 15 ngày đối với vụ việc phức tạp). Hết thời hạn mà không có căn cứ vi phạm thì phải chấm dứt ngay biện pháp; trường hợp cơ quan công quyền áp dụng trái luật gây thiệt hại phải bồi thường theo luật định (khoản 5 Điều 15).

Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Lâm Hiển

Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Lâm Hiển

Chuyển trọng tâm sang bản chất người sử dụng cuối cùng và kiểm soát chuỗi dòng tiền

Trong thực tiễn, hàng hóa thuộc diện kiểm soát thường không được gửi thẳng tới đích đến cuối cùng mà trung chuyển qua nhiều quốc gia và nhiều thực thể đại diện. Do đó, Điều 16 của Luật chuyển trọng tâm kiểm soát từ “tên gọi hình thức trên hồ sơ” sang “bản chất thực tế của người sử dụng cuối cùng và mục đích sử dụng cuối cùng”.

Các chỉ báo rủi ro trọng điểm được luật hóa tại khoản 3 Điều 16 bao gồm: Sự thiếu tương thích giữa năng lực, quy mô hoạt động của khách hàng với công năng của thiết bị; tuyến vận tải logistics vòng vo phi lý tế; việc khách hàng từ chối cung cấp cam kết sử dụng mục đích hòa bình hoặc che giấu chủ sở hữu hưởng lợi thực tế.

Song song với luồng hàng hóa, Mục 2 Chương II (từ Điều 20 đến Điều 26) tạo lập hành lang pháp lý nghiêm ngặt về kiểm soát rủi ro dòng tiền tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Các tổ chức tín dụng, trung gian thanh toán và tổ chức kinh doanh ngành nghề phi tài chính có trách nhiệm thực hiện quy trình nhận biết khách hàng, đối chiếu liên tục với Danh sách tổ chức, cá nhân bị chỉ định (Điều 23). Khi phát hiện giao dịch có dấu hiệu bất thường như: Chia nhỏ dòng tiền, thanh toán phức tạp qua nhiều tài khoản trung gian, sử dụng tài sản số ngụy danh,... các tổ chức phải báo cáo ngay Ngân hàng Nhà nước và áp dụng biện pháp đóng băng tài khoản, trì hoãn giao dịch trong vòng 24 giờ.

Xây dựng văn hóa tự kiểm soát rủi ro tại doanh nghiệp

Một cách tiếp cận rất mới của Luật là không coi doanh nghiệp chỉ là đối tượng thụ động chịu sự quản lý, mà xác định doanh nghiệp là đối tác tuyến đầu trong quản trị an ninh quốc gia thông qua việc thiết lập Chương trình tuân thủ nội bộ (Internal Compliance Program - ICP) theo Điều 18.

ICP đóng vai trò như một bộ kháng thể tự nhiên của doanh nghiệp, giúp các cơ sở công nghệ cao, doanh nghiệp xuất nhập khẩu, logistics tự sàng lọc đối tác, rà soát danh mục hàng hóa và kiểm soát chuỗi cung ứng trước khi giao dịch được ký kết. Đổi lại, Nhà nước áp dụng chính sách khuyến khích thực chất: Các doanh nghiệp vận hành ICP hiệu quả sẽ được cơ quan thẩm quyền công nhận và trao Chế độ ưu tiên (Điều 19), bao gồm miễn giảm kiểm tra thực tế, phân luồng thông quan nhanh chóng, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm và rút ngắn tối đa thời gian xử lý thủ tục cấp phép.

Bên cạnh đó, việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia (Điều 28) và Hệ thống cảnh báo sớm (Điều 29) sẽ tạo ra hạ tầng kết nối số liên thông giữa Bộ Quốc phòng (Cơ quan đầu mối quốc gia), Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp; kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chuyên trách nòng cốt và sự tham gia chủ động của toàn dân (Điều 32).

Tóm lại, Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2027 là bước tiến quan trọng trong công tác lập pháp quốc phòng - an ninh của Việt Nam. Việc đặt phương thức đánh giá rủi ro vào vị trí trung tâm của công tác quản lý đã giải quyết trọn vẹn bài toán cân bằng: Nâng cao năng lực ngăn chặn từ sớm, từ xa các mối đe dọa hủy diệt hàng loạt, bảo đảm an ninh quốc gia và tuân thủ các cam kết quốc tế; đồng thời tối ưu hóa chi phí tuân thủ, khơi thông dòng chảy thương mại và mở rộng không gian an toàn cho khoa học công nghệ phát triển.

Đổi mới tư duy kiểm soát bằng đánh giá rủi ro chính là chìa khóa để bảo đảm rằng: Quốc phòng, an ninh vững mạnh là nền tảng cho kinh tế cất cánh; và một nền kinh tế hội nhập, phát triển công nghệ cao bền vững sẽ tiếp tục bồi đắp tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Thượng tá Cao Đăng Lưu - Phó Chỉ huy trưởng Trung tâm 81, Binh chủng Hóa học, Bộ Quốc phòng

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/luat-phong-chong-pho-bien-vu-khi-huy-diet-hang-loat-doi-moi-tu-duy-kiem-soat-pho-bien-vu-khi-huy-diet-hang-loat-qua-phuong-thuc-danh-gia-rui-ro-10429228.html