Luật Thủ đô năm 2026: Trao quyền đặc thù cho Hà Nội nhưng không tách khỏi yêu cầu kiểm soát quyền lực
Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 (Luật Thủ đô) vừa được Quốc hội thông qua cần được nhìn nhận không chỉ như một đạo luật điều chỉnh riêng cho Hà Nội, mà còn là một bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị đối với một đô thị đặc biệt.
Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2026, riêng một số quy định về xây dựng, ban hành văn bản thi hành luật có hiệu lực từ ngày luật được thông qua (23-4).
Một trong những thay đổi căn bản nhất của Luật Thủ đô là chuyển từ cơ chế “phân cấp” sang “phân quyền triệt để, toàn diện và phân định rõ thẩm quyền của HĐND, UBND, Chủ tịch UBND thành phố”, theo khoản 2 Điều 4 Luật Thủ đô.
Theo đó, Luật Thủ đô giao 199 thẩm quyền đặc thù, vượt trội cho Hà Nội, trong đó có: 127 thẩm quyền của HĐND, 56 thẩm quyền của UBND và 16 thẩm quyền của Chủ tịch UBND thành phố. Đây không đơn thuần là sự gia tăng về thẩm quyền hành chính, mà phản ánh rõ xu hướng phân quyền mạnh hơn cho chính quyền đô thị, gắn quyền quyết định với trách nhiệm tổ chức thực hiện và trách nhiệm giải trình.

Công trường thi công cầu Trần Hưng Đạo tại phía đầu cầu nối vào đường Nguyễn Sơn. Ảnh: LINH AN
Từ góc nhìn pháp lý, cơ chế này xuất phát từ thực tiễn quản trị Thủ đô. Hà Nội không chỉ là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, mà còn là đô thị lớn, chịu áp lực đặc biệt về dân cư, hạ tầng, giao thông, quy hoạch, môi trường, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Nếu tiếp tục vận hành hoàn toàn theo khuôn khổ chung như các địa phương khác, nhiều vấn đề đặc thù của Thủ đô sẽ khó được xử lý kịp thời. Vì vậy, Luật Thủ đô đã xác lập một khuôn khổ thể chế riêng, cho phép Hà Nội chủ động hơn trong hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển, khác với trước đây khi nhiều quyết định quan trọng vẫn phải xin ý kiến Trung ương.
Một quy định có ý nghĩa nền tảng là cơ chế áp dụng pháp luật tại Điều 5. Theo đó, trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Thủ đô và luật, nghị quyết khác của Quốc hội về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Luật Thủ đô, trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành sau có cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn và việc áp dụng được HĐND thành phố quyết định theo khoản 3 Điều 5 của Luật này.
Đồng thời, nếu văn bản của cơ quan Trung ương ban hành sau có cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn thì HĐND thành phố có thể quyết định việc áp dụng. Đây là điểm rất đáng chú ý, bởi nó giúp hạn chế tình trạng chính sách đặc thù bị “đóng băng” khi hệ thống pháp luật chung thay đổi, đồng thời bảo đảm Hà Nội vẫn có thể tiếp cận các cơ chế thuận lợi hơn trong quá trình phát triển.

Luật Thủ đô năm 2026 xác lập một khuôn khổ thể chế riêng, cho phép Hà Nội chủ động hơn trong hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển. Ảnh minh họa: LINH AN
Đáng chú ý hơn, Luật Thủ đô thiết lập cơ chế thí điểm chính sách mới, kể cả trường hợp khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc đối với những vấn đề pháp luật chưa quy định. Điều 9 cho phép thành phố thí điểm cơ chế, chính sách mới trong giới hạn nhất định, nhưng không được ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia, quyền con người, quyền công dân, trật tự xã hội và lợi ích công cộng; thời gian thí điểm không quá 5 năm và có thể được gia hạn không quá 5 năm.
Đây là một trong những điểm thể hiện rõ nhất tư duy quản trị đô thị hiện đại. Thực tiễn phát triển đô thị luôn đi nhanh hơn quy định pháp luật, đặc biệt trong các lĩnh vực như dữ liệu đô thị, trí tuệ nhân tạo, giao thông thông minh, công nghệ tài chính, kinh tế số, dịch vụ đô thị mới và các mô hình kinh doanh sáng tạo.
Nếu không có cơ chế thử nghiệm, chính quyền dễ rơi vào trạng thái “muốn làm nhưng thiếu căn cứ pháp lý”. Ngược lại, nếu thử nghiệm không kiểm soát, rủi ro đối với người dân, doanh nghiệp và lợi ích công cộng sẽ rất lớn. Luật Thủ đô đã lựa chọn hướng tiếp cận cân bằng hơn là cho phép thử nghiệm, nhưng phải có mục tiêu, phạm vi, thời hạn, cơ chế giám sát, đánh giá và quản trị rủi ro.
Điều 19 về thử nghiệm có kiểm soát cũng là điểm mới cần được đánh giá cao. Quy định này cho phép HĐND thành phố ban hành tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục cho phép thử nghiệm công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới.
UBND thành phố có thể quyết định tạm thời không áp dụng một số quy định pháp luật trong phạm vi thử nghiệm cụ thể nếu quy định hiện hành không đủ cụ thể hoặc không còn phù hợp. Tuy nhiên, việc thử nghiệm vẫn phải bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng và quyền lợi của người tham gia thử nghiệm. Đây là cơ chế có thể mở đường cho Hà Nội trở thành nơi kiểm nghiệm chính sách, công nghệ và mô hình quản trị mới trước khi nhân rộng ở phạm vi lớn hơn.

Theo Luật Thủ đô năm 2026, Quy hoạch tổng thể Thủ đô có giá trị pháp lý như quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung thành phố trực thuộc Trung ương. Ảnh minh họa: LINH AN
Về quy hoạch, Luật Thủ đô cũng thể hiện tư duy tích hợp rõ hơn. Điều 10 quy định trên địa bàn thành phố chỉ lập một Quy hoạch tổng thể Thủ đô, có giá trị pháp lý như quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung thành phố trực thuộc Trung ương. Quy định này có ý nghĩa thực tiễn lớn, bởi một trong những điểm nghẽn kéo dài trong quản lý đô thị là tình trạng chồng chéo giữa các loại quy hoạch, làm giảm tính thống nhất trong phát triển không gian, hạ tầng và sử dụng đất.
Về nguồn lực phát triển, Luật Thủ đô mở rộng thêm các công cụ tài chính cho Hà Nội. Điều 21 quy định cơ chế ngân sách Trung ương bổ sung có mục tiêu từ số tăng thu trên địa bàn; ngân sách thành phố được hưởng toàn bộ một số khoản thu; đồng thời HĐND thành phố có thẩm quyền quy định việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu dự án, trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị và trái phiếu xanh. Đây là cơ sở quan trọng để Hà Nội huy động nguồn lực cho các dự án hạ tầng, môi trường, chỉnh trang đô thị, giao thông công cộng và các chương trình phát triển dài hạn.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng trao quyền đặc thù không đồng nghĩa với nới lỏng kiểm soát quyền lực. Ngược lại, Luật Thủ đô đặt ra yêu cầu rất cao về công khai, minh bạch, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Điều 33 yêu cầu chính quyền thành phố công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình về sử dụng quỹ đất, dự án đầu tư, thủ tục hành chính và các nội dung khác để nhân dân biết, tham gia ý kiến và giám sát.
Điều 34 tiếp tục khẳng định việc xử lý nghiêm hành vi tham nhũng, trục lợi, nhũng nhiễu; đồng thời chỉ loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý đối với người thực hiện không vụ lợi, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục nhưng vẫn phát sinh thiệt hại.
Nhìn tổng thể, Luật Thủ đô thể hiện một cách tiếp cận mới: Trao quyền mạnh hơn cho Hà Nội, nhưng đặt quyền lực đó trong khuôn khổ trách nhiệm cao hơn. Giá trị của đạo luật này không nằm ở con số 199 thẩm quyền đặc thù, mà ở khả năng chuyển hóa các thẩm quyền đó thành năng lực quản trị hiệu quả, minh bạch và phục vụ lợi ích lâu dài của người dân Thủ đô.
Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện. Một đạo luật dù tiến bộ đến đâu cũng chỉ phát huy giá trị khi được cụ thể hóa bằng chính sách khả thi, quy trình minh bạch, đội ngũ thực thi có năng lực và cơ chế giám sát thực chất. Luật Thủ đô vì vậy không chỉ là “quyền mới” của Hà Nội, mà còn là phép thử lớn đối với năng lực điều hành, chất lượng ban hành chính sách và trách nhiệm giải trình của chính quyền thành phố trong giai đoạn phát triển mới.











