Lững lờ Pô Kô
Chảy ngược về phía tây và có những đoạn trở thành biên giới tự nhiên giữa hai quốc gia, con sông huyền thoại ở bắc Tây Nguyên vẫn lững lờ trôi mang phù sa tưới tắm đôi bờ, nảy nở sinh sôi những mạch ngầm hy vọng cho tương lai.
Sông rừng lặng lẽ
Người ta vẫn gọi Pô Kô là con “sông rừng”, có lẽ không hẳn vì con sông ấy chảy miệt mài xuyên ra đại ngàn thăm thẳm bắc Tây Nguyên. Những cái tên như Krông Pô Kô, Đak Pô Kô, Pekô… đều là những cách gọi khác nhau của sông Pô Kô được viết lại trong nhiều sách khám phá về Tây Nguyên của các nhà nghiên cứu nước ngoài như sách “Rừng người Thượng”, sách “Cao nguyên miền Thượng”, hay trong nhiều cuốn hồi ký như hồi ký “Thời sôi động” của Đại tướng Chu Huy Mân, hồi ký “Chiến đấu ở Tây Nguyên” của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, hay sách “Tây Nguyên ngày ấy” của Giáo sư, bác sĩ Lê Cao Đài...

Một góc sông pô kô tạo thành lòng hồ thủy điện Ia Ly
Có nhiều nguồn viết rằng Pô Kô là con sông dài nhất ở Bắc Tây Nguyên (có tư liệu viết sông dài 320 km) chảy xuyên từ bắc Kon Tum (cũ) sang tây Gia Lai. Sông Pô Kô phát nguyên từ khu vực quần sơn Ngọc Linh, chảy dọc dài suốt mạn Tây khu vực Bắc Tây Nguyên men biên giới rồi đổ sang lãnh thổ Campuchia. Riêng từ đoạn hợp lưu với sông Đak Bla về sau, sông còn có tên gọi khác là Sê San. Trong nhiều tư liệu và theo thói quen của người dân thì có nơi gọi là sông Sê San, nơi lại gọi là sông Pô Kô. Từ điểm hợp lưu với sông Đak Bla đã thành lòng hồ Thủy điện Ia Ly, từ nhà máy Thủy điện Ia Ly trở đi, Pô Kô (Sê San) chảy giữa hai địa phương Gia Lai và Quảng Ngãi (Kon Tum cũ) làm ranh giới, qua các vùng Chư Pah và Ia Grai của Gia Lai phía tả ngạn và các vùng Sa Thầy và Ia H’Drai (Kon Tum cũ) phía hữu ngạn, sau đó trở thành biên giới tự nhiên giữa Việt Nam và Campuchia, đến khoảng địa phận Đức Cơ (Gia Lai) thì nằm hẳn bên phần lãnh thổ Campuchia rồi đổ vào Mê Kông. Bờ phía Gia Lai đất đỏ bazan trên nền đá huyền vũ, bờ phía Kon Tum cũ đất nâu xám trên nền đá granite, đá phiến ma. Suốt dọc dài Pô Kô, lòng sông không rộng lắm mà luồn lách giữa các hóc hẻm núi đồi nên có nhiều ghềnh thác, trong đó có thác Ia Ly nổi tiếng một thời nay đã nhường chỗ cho công trình thủy điện lớn nhất ở Tây Nguyên. Pô Kô cuồng lũ vào mùa mưa và nhiều đoạn trơ đá vào mùa khô.
Khắp vùng Ba Na, J’rai, Giẻ Triêng trên miền bắc Tây Nguyên nơi dòng sông đi qua mang đến nhiều lợi ích cho cư dân sinh sống dọc dài theo lưu vực với nguồn thủy sản phong phú, tưới tắm cho cả một vùng bazan với nhiều huyền thoại gắn liền với dòng sông. Những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và cả sau này, Pô Kô vẫn là con sông rừng lặng lẽ ghi lưu bao kỳ tích oai hùng và gian khổ của các thế hệ cha ông ngày trước, góp phần phát triển dân sinh, giữ vững chủ quyền đất nước dọc dài biên giới Bắc Tây Nguyên. Pô Kô nổi lên như một chứng tích oai hùng với người Anh hùng A Sanh ở làng Nú (xã Ia Krái, Gia Lai) chèo thuyền độc mộc đưa bộ đội và vũ khí qua sông. Ông là nguyên mẫu của thơ và bài hát nổi tiếng “Người lái đò trên sông Pô Kô”. Dòng sông gắn liền với các bản hùng ca Tây Nguyên, nổi tiếng với lễ hội đua thuyền độc mộc mang tên người anh hùng không còn chỉ là biểu tượng của tinh thần quật khởi trong kháng chiến, Pô Kô hôm nay là dòng chảy của sự ấm no, của nhịp sống hiện đại đang len lỏi vào từng buôn làng, tưới mát các rẫy cà phê, cao su, góp phần phát triển kinh tế cho cả vùng.
Dòng sông sự sống
Chạy dài qua hàng loạt địa danh từ Đắk Pék, Đắk Môn cho tới Bờ Y, Đắk Tô, rồi cả Đắk Hà, Sa Bình (Kon Tum cũ, nay là miền tây Quảng Ngãi), lững lờ chảy cho tới miên man những buôn làng ở Ia Krái, Ia Tô cho tới vùng biên Ia O rồi đổ vào đất Campuchia. Từ bao đời nay dòng sông đã giúp đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống dọc hai bên bờ mưu sinh. Dòng sông đã giúp người dân thu hoạch cá, tôm, cung cấp nước tưới, phù sa cho cây trồng. Hai bên bờ sông Pô Kô là những vườn cao su đang bung lộc non xanh biếc, vườn cà phê hoa nở trắng tinh khôi cuối mùa xuân và những ngôi nhà xây khang trang. Cuộc sống mới ở những bản làng bên dòng sông Pô Kô nay đã đổi thay. Nhờ dòng nước ngọt lành, những vườn cao su, cà phê và cây ăn trái bạt ngàn đã thay thế cho lối canh tác nương rẫy lạc hậu. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp đã giúp đời sống đồng bào dân tộc thiểu số khởi sắc. Những ngôi nhà sàn truyền thống giờ đây nằm xen kẽ bên những ngôi nhà xây kiên cố, khang trang, minh chứng cho sự thay đổi về kinh tế của đồng bào nơi đây.

Người dân mưu sinh bên bờ Pô Kô bằng các con thuyền mang dáng thuyền độc mộc
Bên dòng Pô Kô, làng Kon Tu Jốp 1 (xã Đắk Tô, Quảng Ngãi) có 141 hộ đồng bào Rơ Ngao (nhánh Ba Na) trồng được 155 ha cà phê, 125 ha cao su, 12 ha cây ăn trái, 33 ha cây mắc ca. Thu nhập bình quân đầu người 65 triệu/ người/ năm. Làng chỉ còn 9 hộ nghèo, trong làng có nhiều hộ xây dựng nhà khang trang, từ 300 triệu đến 1,5 tỷ đồng. Cũng như thế, những buôn làng Jrai ở xã Ia Krái (được sáp nhập từ các xã Ia Tô, Ia Khai và Ia Krái, tỉnh Gia Lai) cũng đang phát triển mạnh về cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, tiêu, cùng với tiềm năng phát triển du lịch và nuôi trồng thủy sản. Hai bên con đường dẫn vào làng Nú của người Anh hùng A Sanh bây giờ, những ngôi nhà xây kiên cố với mái ngói đỏ, tường sơn sáng với những hàng cây ăn trái tỏa bóng xuống con đường bê tông trải nắng. Khó ai nghĩ rằng nơi này từng là một trong những ngôi làng nghèo nhất xã. Già làng Rơ Châm Hmơnh bảo, năm 2000 làng có 90 hộ thì cả 90 hộ đều thuộc diện đói nghèo. Giờ đây, làng Nú đã khác. Các hộ dân trong làng đều có nhà xây kiên cố, nhiều hộ thu nhập cao từ nông nghiệp và thủy sản. Điển hình như gia đình anh Puih Luih mỗi năm thu nhập 250-300 triệu đồng.
Ở Ia Krái bên dòng Pô Kô của người anh hùng A Sanh này, có nhiều tấm gương Jrai làm kinh tế giỏi, như Rơ Lan Hle ở làng Ó sở hữu 3 ha rẫy trồng cao su, cà phê, điều, thêm ruộng lúa nước và vườn cây ăn trái. Không chỉ làm kinh tế gia đình, anh còn đầu tư máy xay xát, máy múc phục vụ bà con. Hay gia đình ông Rơ Lan Chiếu thu nhập 300-400 triệu đồng/năm nhờ cao su và tiêu. Hay như làng Kăm có 82 hộ, tất cả đều là người Jrai và có nhà xây kiên cố. Trong làng có hơn 15 hộ thu nhập 200-400 triệu đồng/ năm. Mới đây, bà con đóng góp gần 300 triệu đồng xây nhà sinh hoạt chung để làm nơi tổ chức lễ hội truyền thống, sinh hoạt văn hóa và hội họp cộng đồng. Còn nhiều lắm những ngôi làng giàu mạnh như thế bên dòng Pô Kô như làng Bi Ia Yom, làng Doch Krót... Bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc với hạ tầng giao thông được đầu tư, nhiều tuyến đường liên thôn, liên làng bê tông hóa; đời sống người làng Jrai ngày càng được nâng cao.
Với sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước, nhiều buôn làng bên dòng Pô Kô đã có sự đổi thay rất lớn. Đường làng và đường lên khu sản xuất được bê tông hóa, giúp cho việc vận chuyển nông sản của bà con canh tác hai bên bờ sông thuận lợi hơn. Giờ đây, bà con không chỉ xây dựng được nhà khang trang mà còn mua sắm tivi, tủ lạnh, phương tiện để phục vụ cuộc sống gia đình.

Thuyền độc mộc trên dòng Pô Kô và lễ hội đua thuyền mang tên người anh hùng A Sanh
Khi đôi bờ rù rì nở hoa
Dòng Pô Kô huyền thoại uốn lượn qua miền biên giới Ia Grai, Ia O trước khi chảy qua Campuchia hợp lưu với sông Mê Kông. Ven bờ sông và trên cồn bãi xuất hiện một loài hoa rất đẹp, người Jrai gọi là Bra Tang hay còn gọi là hoa rù rì. Và dường như loài hoa ấy cũng lặng thầm réo gọi những mối lương duyên ở đôi bờ biên giới. Bên dòng Pô Kô, nhiều mối tình xuyên biên giới đã nảy nở, hình thành nên những mái ấm bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc. Như chuyện tình vợ chồng anh Rơ Chăm Hưn vốn là người làng Phí (xã Sê San, huyện Oyadav, tỉnh Ratanakiri, Campuchia) và chị Ksor Đam (làng Kloong, xã Ia O). Hay câu chuyện của vợ chồng anh Rơ Chăm Băn từ làng Chai (xã Nhang, huyện Đun Mia, tỉnh Ratanakiri) và chị Puih Bleo (làng Kloong), cả chuyện tình của anh Rơ Châm Đoan (làng Tang, xã Sê San, huyện Oyadav, tỉnh Ratanakiri) nên duyên cùng chị Puih Chĩn, chuyện chị Ksor Le (làng Kom II) và anh Rơ Mah Thiêng (xã Nhang, huyện Đun Mia, tỉnh Ratanakiri) đến với nhau bằng mùa hoa rù rì.
Tình yêu đã giúp họ vượt qua những rào cản, giúp họ nên vợ nên chồng, cùng nhau xây dựng gia đình, những đứa con lần lượt chào đời, mang đến tiếng cười và sự ấm áp cho mái nhà nhỏ nơi vùng biên. Theo thống kê, toàn xã Ia O hiện có 34 hộ gia đình mang hai quốc tịch Việt Nam - Campuchia, trong đó 20 hộ sinh sống tại Việt Nam và 14 hộ sống tại Vương quốc Campuchia. Dòng Pô Kô trở thành dòng sông của sự gắn kết hai quốc gia. Những mái ấm hai quốc tịch trở thành cầu nối giữa hai cộng đồng, góp phần củng cố tình đoàn kết, gắn bó giữa cư dân hai bên biên giới.

Đồng bào Jrai, Ba Na đôi bờ Pô Kô luôn tin tưởng vào các chính sách của Đảng và nhà nước
Không chỉ có những mối lương duyên xuyên biên giới, dòng Pô Kô cũng là nơi đất lành để hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp ở vùng biên giới Ia O. Làng chài hiện có 13 hộ với hơn 30 nhân khẩu sống trên vùng lòng hồ thủy điện Sê San 4. Dòng Pô Kô như cánh cửa hy vọng mở ra cho những ai dám đối diện gian khó để dựng lại cuộc đời. Giữa sóng nước mênh mông, những căn nhà nổi bằng gỗ, bằng tôn mọc lên, nơi có bếp lửa ấm, tiếng trẻ thơ ê a và khát vọng bình yên. Ông Phan Đình Thắm, Chủ tịch UBND xã Ia O cho biết, địa phương đã tạo điều kiện về hộ khẩu, an sinh xã hội, giúp các cháu nhỏ đến trường, giúp bà con lên bờ để ổn định lâu dài. Chính quyền địa phương định hướng khai thác lợi thế sông nước gắn với văn hóa bản địa. Những hộ gia đình ấy đầu tư nuôi cá lăng đuôi đỏ, cá diêu hồng, cá bống cùng các loại thủy sản đặc trưng mang đến cuộc sống sung túc.
Tiềm năng du lịch suốt dọc dòng sông cũng đang hình thành. Cảnh sắc Pô Kô đẹp mê hồn với núi bao quanh, sông uốn lượn, sáng sương mờ ảo, chiều hoàng hôn đỏ rực, nhưng ẩm thực từ sản vật sông nước với cá cơm trắng, thân trong veo, phơi khô trở thành món quà riêng của dòng sông. Dọc dòng sông còn nhiều đảo với rừng cây xanh tốt, thuận lợi để hình thành các khu nghỉ dưỡng sinh thái. Dòng Pô Kô vẫn chảy qua vùng đất này như bao đời nay. Pô Kô không chỉ là dòng sông giàu sản vật, mà đang hóa thành dòng sông của khát vọng. Con sông từng chứng kiến những chiến tích oai hùng giờ lại mang trên mình sứ mệnh hồi sinh và phát triển của những buôn làng Ba Na hay Jrai. Ở đó người làng vẫn giữ tiếng cồng chiêng, tổ chức lễ hội truyền thống mừng cho mùa cà phê bội thu, cho mùa tiêu đầy trái, cho cao su chảy những mạch vàng trắng và nhiều mái nhà được xây mới tạo nên nhịp sống đầy sức sống. Một vùng đất giàu huyền thoại bên dòng sông lặng lẽ đang chuyển mình và vươn lên mạnh mẽ.
Nguồn ANTG: https://antg.cand.com.vn/phong-su/lung-lo-po-ko-i803289/











