Mở khóa nguồn lực, kích hoạt động lực mới
Kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn mới với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao - đạt hai con số. Chuyên gia cho rằng, để kinh tế tăng trưởng cao, không chỉ cần duy trì các động lực truyền thống mà quan trọng hơn là phải 'mở khóa' những nguồn lực còn bị tắc và tạo ra các động lực mới có tính đột phá.
Ba động lực chủ đạo
Trao đổi với PV Tiền Phong, TS. Phạm Ngọc Hương Quỳnh - chuyên gia trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, năm 2025 có thể xem là một năm thành công của kinh tế Việt Nam.
Tăng trưởng GDP đạt khoảng 8,02%, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao nhất khu vực, đưa quy mô nền kinh tế lên khoảng 514 tỷ USD và vươn lên vị trí thứ 32 thế giới. Đây là nền tảng quan trọng để bước sang năm 2026 với nhiều kỳ vọng tích cực hơn.
Bà Quỳnh nhận định mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên mà Chính phủ đặt ra cho năm 2026 là tham vọng, nhưng không phải không có cơ sở nếu giải pháp đủ mạnh. Tuy vậy, bà Quỳnh lưu ý rằng, nhiều tổ chức quốc tế hiện vẫn đưa ra dự báo thận trọng hơn, dao động khoảng 6,7% - 7,5%, thậm chí 7,2% trong kịch bản tích cực.
Điều này cho thấy, tăng trưởng cao không chỉ là câu chuyện của quyết tâm chính sách mà còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng kích hoạt các nguồn lực đang bị “nén” trong nền kinh tế.

Muốn tăng trưởng cao phải dựa trên huy động nguồn lực, tài khóa và đầu tư công. Ảnh: Như Ý
Theo phân tích của bà Quỳnh, cấu trúc tăng trưởng của Việt Nam hiện vẫn dựa chủ yếu vào ba động lực chính. Thứ nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong năm 2025, lĩnh vực này tăng gần 10% và tiếp tục đóng vai trò là “đầu tàu” của nền kinh tế. Đây cũng là lĩnh vực thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài và tạo ra giá trị gia tăng lớn cho xuất khẩu.
Thứ hai là xuất khẩu. Tổng kim ngạch thương mại năm 2025 tiến gần mốc 900 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, theo TS. Quỳnh, tăng trưởng xuất khẩu trong thời gian tới sẽ chịu nhiều áp lực hơn khi các thị trường lớn ngày càng siết chặt tiêu chuẩn môi trường và tiêu chuẩn chất lượng.
Thứ ba là dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Với tổng vốn đăng ký khoảng 38 tỷ USD trong năm 2025, Việt Nam vẫn được xem là điểm đến hấp dẫn của nhà đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, theo TS. Quỳnh, nếu chỉ dựa vào FDI và xuất khẩu, tăng trưởng của Việt Nam sẽ thiếu tính bền vững, bởi động lực trong nước chưa được khai thác đầy đủ.
“Năm 2026 cần một cách tiếp cận mới, tập trung vào những giải pháp có thể tạo ra “điểm bẻ gãy” cho nền kinh tế”, bà Quỳnh nói.
Khai thác mạnh hơn kinh tế số, đổi mới sáng tạo
Trao đổi với PV Tiền Phong, PGS.TS.Nguyễn Văn Phương phân tích, trong bối cảnh kinh tế thế giới phân mảnh, cạnh tranh chiến lược gia tăng và chuỗi cú sốc địa chính trị, tài chính dồn dập, mục tiêu tăng trưởng nhanh của Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào lao động rẻ, khai thác tài nguyên và mở rộng đầu tư theo chiều rộng.
Để tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình kéo dài, Việt Nam buộc phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên thể chế chất lượng cao; sử dụng hiệu quả nguồn lực và khai thác mạnh hơn các động lực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, đổi mới sáng tạo.
Theo ông Phương, về huy động nguồn lực và đầu tư công vẫn là công cụ quan trọng nhưng phải được sử dụng thông minh hơn. Thay vì mở rộng chi tiêu dàn trải, Nhà nước cần ưu tiên vốn cho hạ tầng chiến lược (giao thông, năng lượng, logistics, hạ tầng số), giáo dục - đào tạo và thích ứng biến đổi khí hậu.
Đầu tư công phải đóng vai trò vốn mồi, thiết kế dự án hợp tác công tư (PPP) minh bạch, phân chia rủi ro hợp lý để kéo vốn tư nhân, thay vì làm thay khu vực tư hoặc tạo cạnh tranh không công bằng. Nếu làm tốt, mỗi đồng vốn nhà nước có thể kích hoạt được nhiều đồng vốn tư nhân trong và ngoài nước, tạo hiệu ứng số nhân lớn cho tăng trưởng.
Ông Phương cho rằng, khu vực tư nhân trong nước là động lực tăng trưởng đang bị nén cần được giải phóng. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu vốn, thiếu thông tin, nhưng rào cản lớn hơn lại nằm ở chi phí tuân thủ và rủi ro chính sách.
“Chính sách nên chuyển từ ưu đãi thuế trải rộng sang hỗ trợ có điều kiện cho doanh nghiệp nâng cấp công nghệ, quản trị, tham gia cụm liên kết ngành. Các công cụ như quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, quỹ đổi mới sáng tạo chỉ phát huy tác dụng nếu được vận hành chuyên nghiệp, công khai, tránh xin - cho.
Quan trọng không kém là bảo đảm đối xử bình đẳng giữa doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI, giúp khu vực tư nhân yên tâm đầu tư dài hạn, thay vì tìm đường lướt sóng hoặc chuyển vốn ra ngoài”, ông Phương nói.
Ông Phương cho biết thêm, với doanh nghiệp FDI, bối cảnh dịch chuyển chuỗi cung ứng đang mở ra cơ hội hiếm có để Việt Nam thu hút dòng vốn chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng sạch.
Tuy nhiên, thay vì thu hút bằng mọi giá, nên chọn lọc nhà đầu tư có cam kết rõ về liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường.
Các khu công nghiệp, khu công nghệ cao cần được quy hoạch gắn với hệ sinh thái trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, để FDI không chỉ mang lại vốn và xuất khẩu mà còn kéo năng lực công nghệ nội địa lên một nấc mới.
“Tăng trưởng kinh tế nhanh trong giai đoạn biến động không thể là tăng bằng mọi giá, đánh đổi ổn định vĩ mô hay môi trường. Đó phải là tăng trưởng dựa trên nền thể chế tốt hơn, sử dụng hiệu quả hơn từng đồng vốn, từng lao động, đồng thời huy động được các nguồn lực mới - từ khu vực tư nhân, FDI thế hệ mới đến kinh tế số và đổi mới sáng tạo.
Nếu dám đi tới cùng trong cải cách thể chế và thiết kế lại cách huy động, phân bổ nguồn lực, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để không chỉ tăng tốc vài năm, mà nâng hẳn quỹ đạo tăng trưởng trong cả thập kỷ tới”, ông Phương nói.
Không thiếu nguồn lực,chỉ thiếu cách khai thông
Theo TS. Nguyễn Văn Lộc - Chuyên gia Trường Kinh tế - Đại học Phenikaa, vấn đề lớn nhất của nền kinh tế hiện nay không phải là thiếu nguồn lực, mà là nguồn lực chưa được khai thông đúng cách. Dòng vốn vẫn đang tập trung chủ yếu vào các khu vực có rủi ro thấp, trong khi doanh nghiệp sản xuất - đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ - lại gặp khó khăn trong tiếp cận vốn.
Ngoài ra, dữ liệu - một yếu tố sản xuất mới trong nền kinh tế số vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Trong khi đó, quá trình chuyển đổi xanh dù đã được nhắc đến nhiều nhưng vẫn thiếu các cơ chế tài chính đủ mạnh để thúc đẩy doanh nghiệp hành động.
“Năm 2026 cần tập trung vào những giải pháp có thể tạo ra tác động lan tỏa lớn và khả thi”, ông Lộc nhấn mạnh.
Một trong những rào cản lớn nhất đối với doanh nghiệp hiện nay là tiếp cận vốn. Ông Lộc cho rằng, hệ thống các tổ chức tín dụng chi cho vay vẫn phụ thuộc nhiều vào tài sản thế chấp, trong khi nhiều doanh nghiệp có dòng tiền tốt nhưng lại thiếu tài sản đảm bảo.

Tăng trưởng trong giai đoạn biến động phải dựa trên nền thể chế tốt hơn, sử dụng hiệu quả hơn từng đồng vốn. Ảnh: Như Ý
Ông Lộc đề xuất chuyển sang mô hình tín dụng dựa trên dòng tiền và dữ liệu. Trong năm 2026, hoàn toàn có thể thí điểm tại các ngân hàng thương mại lớn bằng cách kết nối dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử và giao dịch ngân hàng để xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng theo thời gian thực.
Theo TS Nguyễn Văn Lộc (Trường Kinh tế - ĐH Phenikaa), trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu lớn ngày càng siết chặt tiêu chuẩn môi trường, chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Trong năm 2026 cần triển khai các gói tín dụng xanh với lãi suất thấp hơn thị trường 1 - 2%, tập trung vào năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng và sản xuất sạch hơn.
“Nền tảng dữ liệu thực tế đã tồn tại. Vấn đề chỉ là cơ chế chia sẻ và khai thác. Khi ngân hàng có thể đánh giá chính xác năng lực tài chính của doanh nghiệp, việc cho vay sẽ linh hoạt hơn và giảm phụ thuộc vào tài sản đảm bảo”, TS. Lộc phân tích.
Ông Lộc cho rằng, Việt Nam nên thí điểm thị trường dịch vụ dữ liệu, trong đó Nhà nước đóng vai trò “người mua đầu tiên”. Nhà nước có thể đặt hàng doanh nghiệp giải quyết các bài toán thực tế về logistics, giao thông hay năng lượng. Cách làm này vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa tạo động lực cho doanh nghiệp công nghệ phát triển.
Ông Lộc nhấn mạnh: Nếu mở được dòng vốn, dữ liệu và mở đường cho tăng trưởng xanh được triển khai đồng bộ trong năm 2026, nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn có thể bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới - không chỉ nhanh hơn mà còn bền vững hơn
Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/mo-khoa-nguon-luc-kich-hoat-dong-luc-moi-post1831445.tpo











