Mở rộng dạy tiếng Khmer cho đồng bào vùng biên giới

Tây Ninh sẽ từng bước mở rộng dạy học tiếng Khmer tại các cơ sở giáo dục thuộc các xã biên giới và khu vực có đông đồng bào dân tộc Khmer trong giai đoạn 2026-2030, trên cơ sở nhu cầu tự nguyện của học sinh, sự đồng thuận của cha mẹ học sinh và điều kiện bảo đảm của từng địa bàn.

Tây Ninh sẽ từng bước mở rộng dạy học tiếng Khmer tại các cơ sở giáo dục thuộc các xã biên giới và khu vực có đông đồng bào dân tộc Khmer trong giai đoạn 2026-2030, trên cơ sở nhu cầu tự nguyện của học sinh, sự đồng thuận của cha mẹ học sinh và điều kiện bảo đảm của từng địa bàn.

Cô giáo Thạch Thị Phắt Cà Đi tận tình hướng dẫn học sinh trong tiết học tiếng Khmer tại Trường Tiểu học Hòa Đông, xã Phước Vinh. Ảnh tư leieuj: Giang Phương/TTXVN

Đây là một trong những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng biên giới, bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết, bản sắc văn hóa dân tộc Khmer.

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Phạm Tấn Hòa, triển khai dạy học tiếng Khmer giai đoạn 2026-2030, tỉnh Tây Ninh hiện có 19 xã biên giới với 121 cơ sở giáo dục phổ thông, 1.844 lớp và 58.843 học sinh. Trong số 2.071 học sinh dân tộc thiểu số tại các xã biên giới, có 1.210 học sinh dân tộc Khmer. Đây là cơ sở để tỉnh xác định lộ trình ưu tiên tổ chức dạy học tiếng Khmer trong những năm tới.

Hiện tiếng Khmer đang được tổ chức giảng dạy tại 3 trường gồm Trường Tiểu học Tân Đông, xã Tân Đông; Trường Tiểu học Hòa Đông, xã Phước Vinh và Trường Tiểu học La Văn Cầu, phường Bình Minh. Trong năm học 2026-2027, tỉnh xác định duy trì ổn định hoạt động tại các cơ sở này, đồng thời ưu tiên triển khai tại Trường Trung học phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh khi bảo đảm đầy đủ điều kiện về đội ngũ giáo viên, chương trình, sách giáo khoa, cơ sở vật chất và nhu cầu học tập của học sinh.

Cũng theo ông Phạm Tấn Hòa, lộ trình năm học 2026-2027, ngành Giáo dục tập trung khảo sát nhu cầu học tiếng Khmer tại các xã biên giới còn lại, đồng thời bước đầu rà soát những xã nội địa có đông người dân tộc Khmer. Kết quả khảo sát sẽ là căn cứ xác định trường học, khối lớp, số lượng học sinh, nhu cầu giáo viên, kinh phí và thời điểm triển khai.

Từ năm học 2027-2028, tỉnh ưu tiên mở rộng tại các xã biên giới có đông học sinh dân tộc Khmer hoặc có nhu cầu học tiếng Khmer rõ ràng và đủ điều kiện, trong đó dự kiến xem xét các địa bàn như Hòa Hội, Tân Hòa, Ninh Điền. Đến năm học 2028-2029, việc mở rộng tiếp tục được xem xét tại Tân Lập, Long Chữ, Long Thuận, Bến Cầu và các địa bàn khác có nhu cầu; đồng thời nghiên cứu mở rộng sang các xã nội địa có đông người dân tộc Khmer. Năm học 2029-2030, tỉnh rà soát, đánh giá toàn diện và hoàn thiện việc mở rộng theo nhu cầu thực tế, làm cơ sở xây dựng định hướng cho giai đoạn sau năm 2030.

Điểm đáng chú ý, việc học tiếng Khmer không giới hạn đối với học sinh dân tộc Khmer. Học sinh dân tộc Kinh và các dân tộc khác nếu có nhu cầu đều có thể tham gia trên tinh thần tự nguyện, bảo đảm bình đẳng và phù hợp với điều kiện tổ chức của từng cơ sở giáo dục. Môn tiếng Khmer được thực hiện theo chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và là môn học tự chọn trong Chương trình giáo dục phổ thông.

Cô Thạch Thị Phắt Cà Đi từng ngày miệt mài gieo chữ trên mảnh đất vùng biên Tây Ninh. Ảnh tư liệu: Giang Phương/TTXVN

Tỉnh yêu cầu việc triển khai không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông và các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Các trường chỉ tổ chức dạy học khi bảo đảm các điều kiện tối thiểu về giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị, sách giáo khoa, học liệu và công tác quản lý chuyên môn; không triển khai dàn trải.

Theo ông Bùi Tuấn Hải, Phó Giám đốc Sở Giáo dục- Đào tạo tỉnh Tây Ninh, để đáp ứng yêu cầu mở rộng, ngành Giáo dục sẽ rà soát, tạo nguồn, tuyển dụng, bố trí và bồi dưỡng giáo viên tiếng Khmer. Trước mắt, tỉnh ưu tiên sử dụng hiệu quả đội ngũ giáo viên hiện có, giáo viên dân tộc Khmer, giáo viên có khả năng sử dụng tiếng Khmer và giáo viên đã được đào tạo, bồi dưỡng. Trường hợp chưa đủ giáo viên cơ hữu, có thể nghiên cứu điều phối giáo viên giữa các cơ sở, tổ chức dạy học liên trường, thỉnh giảng, hợp đồng giáo viên hoặc kết hợp trực tiếp với trực tuyến theo quy định.

Cùng với đội ngũ, tỉnh chú trọng bảo đảm sách giáo khoa, học liệu, phòng học và thiết bị dạy học; khuyến khích khai thác học liệu số, thư viện điện tử, bài giảng và video phục vụ việc nghe, nói, đọc, viết tiếng Khmer. Các trường cũng được khuyến khích xây dựng môi trường sử dụng tiếng Khmer thông qua câu lạc bộ, góc học tập, đọc sách, kể chuyện, viết chữ Khmer, tìm hiểu văn hóa và các hoạt động trải nghiệm phù hợp.

Việc dạy học tiếng Khmer được xác định không chỉ đáp ứng nhu cầu học tập mà còn góp phần hình thành nguồn nhân lực có khả năng sử dụng ngôn ngữ Khmer trong giao tiếp, học tập, lao động và công tác; tăng cường hiểu biết, đoàn kết giữa học sinh các dân tộc. Đối với địa bàn biên giới, hoạt động này còn hướng tới tăng cường giao lưu nhân dân, hợp tác giáo dục, văn hóa, kinh tế - xã hội giữa Tây Ninh với các địa phương giáp biên của Vương quốc Campuchia./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Tin liên quan

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ Trải nghiệm sắc màu văn hóa Khmer Nam Bộ giữa lòng Hà Nội

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/dan-toc-mien-nui/mo-rong-day-tieng-khmer-cho-dong-bao-vung-bien-gioi-20260809124826936.htm