Mở rộng không gian phát triển kinh tế tư nhân

Niềm tin hiện là vấn đề lớn đối với khu vực tư nhân. Thậm chí, còn mang tính quyết định trước mỗi quyết định gia nhập thị trường hay mở rộng đầu tư.

Niềm tin hiện là vấn đề lớn đối với khu vực tư nhân. Thậm chí, còn mang tính quyết định trước mỗi quyết định gia nhập thị trường hay mở rộng đầu tư. Để có được khu vực kinh tế tư nhân đủ mạnh và đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, cần gia cố niềm tin thị trường thông qua những nỗ lực cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh đi kèm cơ chế theo dõi, giám sát và đánh giá độc lập.

Trong bối cảnh địa chính trị thế giới diễn biến phức tạp, việc Việt Nam kiên định mục tiêu tăng trưởng hai con số và nỗ lực đổi mới để tạo đột phá rất đáng ghi nhận. Nhưng để hiện thực hóa mục tiêu đó, điều kiện tiên quyết là phải đổi mới mô hình tăng trưởng.

Thực tế chứng minh, tăng trưởng cao không thể dựa mãi vào mở rộng tín dụng, kích cầu bằng tiền hay đẩy vốn vào những khu vực tạo tăng trưởng bề nổi. Muốn tăng trưởng nhanh mà vẫn bền vững, thì phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh; lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, đúng như tinh thần mà các nghị quyết quan trọng của Đảng, Nhà nước đã đặt ra.

Chúng ta ban hành nhiều cơ chế chính sách, văn bản cải cách, song phải đưa được vào đời sống. Khi doanh nghiệp và người dân có thể cảm nhận rõ thể chế kinh tế đang được đổi mới, động lực tăng trưởng đang gia tăng, nguồn lực được huy động và phân bổ hiệu quả, niềm tin sẽ được vun bồi thông qua các quyết định đầu tư của khối dân doanh. Ngược lại, nếu chỉ nói về mục tiêu tăng trưởng mà không thay đổi nội hàm của tăng trưởng, người dân và doanh nghiệp sẽ không thay đổi kỳ vọng, không thay đổi hành vi, và mục tiêu rất dễ trở thành khẩu hiệu. Vì thế, điều cốt lõi không nằm ở con số, mà nằm ở chỗ có tạo ra được một cơ chế tăng trưởng mới, một động lực tăng trưởng mới và một niềm tin mới cho xã hội, nhất là với khu vực kinh tế tư nhân hay không? Một trong những chỉ số cho chúng ta thấy phần nào bức tranh về niềm tin của xã hội chính là số lượng doanh nghiệp thành lập mới, quay trở lại hoạt động.

Sau nhiều lần lỡ hẹn với mục tiêu một triệu doanh nghiệp, tính đến hết ngày 18/5/2026, cả nước có hơn 1,062 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Chúng ta có thể coi những kết quả trên là tác động bước đầu của Nghị quyết số 68-NQ/TW trong củng cố niềm tin, khơi thông động lực kinh doanh và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân chuyển dịch từ trạng thái thích ứng để tồn tại sang trạng thái có khát vọng vươn lên. Đây không chỉ là sự thay đổi về thể chế kinh tế mà còn là sự thay đổi về nhận thức, tư duy chiến lược trong hoạt động đầu tư của toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân. Việc xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” sẽ kích hoạt được “ngọn lửa kinh doanh”.

Đây được coi là bước ngoặt mang tính thể chế. Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả triển khai các nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân phải dựa trên kết quả thực chất, thay vì các báo cáo mang tính hình thức. Đơn cử với mục tiêu về số lượng doanh nghiệp, Việt Nam hiện có một triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Như vậy, để tăng gấp đôi con số này vào năm 2030, nền kinh tế cần tăng bình quân 200.000 doanh nghiệp/năm.

Đây là thách thức không nhỏ, khi tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường so số doanh nghiệp rút lui đang giảm dần. Nếu giai đoạn trước, cứ một doanh nghiệp rời thị trường có thể có khoảng hai doanh nghiệp gia nhập hoặc quay lại, thì từ năm 2021 đến nay tỷ lệ này gần như chỉ còn xấp xỉ một đổi một (1-1). Điều đáng quan ngại, trong khi số doanh nghiệp thành lập mới thường được nhấn mạnh như một tín hiệu tích cực, thì số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường lại ít được nhìn nhận tương xứng. Vậy nên, nếu không có một cơ chế theo dõi độc lập, nghiêm túc và thường xuyên, mục tiêu hai triệu doanh nghiệp rất dễ bị biến thành một chỉ tiêu hành chính, hơn là một cam kết phát triển.

Hiện nay, chúng ta nói rất nhiều về “phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” như là “đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính” của tăng trưởng. Đây là định hướng và quan niệm nhận thức rất đúng đắn. Dư địa tăng trưởng lớn nhất của Việt Nam hiện nay không nằm ở việc tăng vốn hay tăng lao động, mà nằm ở tăng năng suất thông qua khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Tuy nhiên, trên thực tế, nguồn lực vẫn chưa chảy mạnh vào các lĩnh vực này. Do đó, chúng ta cần có cơ chế đủ mạnh để tạo ra dòng vốn đầu tư lớn cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Mặt khác, Nhà nước cần có cơ chế thử nghiệm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới, bởi đổi mới sáng tạo không thể thành công nếu không chấp nhận rủi ro. Khi khu vực tư nhân được tạo điều kiện tiếp cận công nghệ, nguồn lực và cơ hội đổi mới, nền kinh tế sẽ có thêm động lực để phát triển nhanh và bền vững hơn.

Nếu Việt Nam có thể bứt phá năng suất bằng khoa học công nghệ và chuyển đổi số thì mục tiêu tăng trưởng 10% liên tục trong thời gian dài không phải là điều quá xa vời!

Để phát triển khu vực kinh tế tư nhân, khơi dậy khát vọng kinh doanh, một trong những nội dung mà các nhà lập pháp, Chính phủ và các bộ, ngành đặc biệt quan tâm đó là cải cách môi trường đầu tư kinh doanh và cắt giảm danh mục các ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Những số liệu thống kê sơ bộ sau một năm kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW cho thấy, tác động tích cực bước đầu thể hiện qua sự gia tăng mạnh mẽ số lượng doanh nghiệp gia nhập, tái gia nhập thị trường; diễn biến tích cực trên thị trường chứng khoán; sự khởi sắc của hoạt động xuất nhập khẩu và đóng góp ngày càng lớn hơn của khu vực kinh tế tư nhân vào thu ngân sách nhà nước.

Phát triển cho kinh tế tư nhân.

Phát triển cho kinh tế tư nhân.

Đáng chú ý để cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ đã triển khai một nhịp độ cải cách chưa từng có. Một cuộc “cách mạng” về cải cách hành chính đang được đẩy lên cao trào nhằm hiện thực hóa tăng trưởng hai con số cho giai đoạn 2026- 2030. Chỉ trong thời gian ngắn, Chính phủ đã ban hành tám Nghị quyết về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh được ban hành, bao phủ hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước. Theo đó, các bộ, cơ quan đề xuất cắt giảm 1.732 điều kiện kinh doanh không cần thiết; bãi bỏ 680 thủ tục hành chính; đơn giản hóa 521 thủ tục hành chính. Chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cũng được đề xuất cắt giảm với ước tính hơn 23.000 tỷ đồng/năm - một con số rất đáng kể cho phát triển kinh tế.

Tuy đã có những chuyển động nhất định, song việc đánh giá kết quả cải cách cần phải bám sát thực tiễn. Bởi việc ban hành bao nhiêu văn bản chưa phản ánh thực chất của quá trình cải cách, mà còn phải đi đến cùng, đó là bao nhiêu văn bản được ban hành đi được vào cuộc sống. Thực tế, có không ít nghị quyết mang tính chương trình hành động chung chung, nội dung mờ nhạt, không có cơ chế theo dõi và cũng không lượng hóa được kết quả. Có những nghị quyết gần như không tạo ra tác động cụ thể nào. Một phần vì nội dung quá chung chung, một phần vì không có ai theo dõi việc thực hiện. Trong khi đó, việc đánh giá lại thường do chính các bộ, ngành thực hiện nên kết quả thường là “đánh giá tốt”(?). Đây là thách thức buộc các cơ quan quản lý phải nhìn nhận nghiêm túc, có cơ chế theo dõi, giám sát đến cùng để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với đòi hỏi thực tế.

Hơn thế, trong xây dựng hệ thống văn bản pháp luật, nếu chỉ tập trung vào việc “cắt giảm” ở trong luật mà các quy định chi tiết vẫn giữ nguyên, thậm chí được viện dẫn và áp dụng rộng rãi hơn, thì cải cách sẽ không có tác dụng. Thực tế, hiện tượng một luật chung nhưng nhiều luật chuyên ngành lại bổ sung các điều kiện khác là vấn đề tồn tại lâu nay và gần như không có cơ chế giám sát. “Nếu cắt gốc thì ngọn cũng sẽ tự mất” - đây là nguyên lý tự nhiên nhưng có vẻ như rất ít được quan tâm.

Theo quy định hiện hành, danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện nằm trong Luật Đầu tư. Vì vậy, để điều chỉnh danh mục này cần có nghị quyết của Quốc hội hoặc phải sửa luật. Đồng thời, cần đặt ra nguyên tắc rõ ràng về việc các luật chuyên ngành không được bổ sung điều kiện kinh doanh ngoài danh mục đã quy định. Nếu thật sự quyết tâm cải cách thì chỉ cần một “nhát cắt” là có thể loại bỏ rất nhiều điều kiện kinh doanh một cách triệt để.

Câu chuyện bãi bỏ các ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã được đặt ra suốt hơn 20 năm qua, nhưng kết quả vẫn chưa đạt kỳ vọng. Dù lần này danh mục có sự điều chỉnh với việc loại bỏ một số ngành, nghề, nhưng đó mới chỉ là bước đầu. Bước tiếp theo, phải rà soát lại toàn bộ hệ thống ngành nghề kinh doanh có điều kiện và xây dựng một phương pháp luận khoa học để phân loại. Hiện nay, danh mục hơn 200 ngành nghề kinh doanh có điều kiện vẫn chưa cho thấy một logic phân loại rõ ràng. Thí dụ, có những ngành rất rộng như kinh doanh thủy sản, hóa chất được đưa vào danh mục, trong khi có những nội dung rất hẹp như cấp chứng chỉ thiết kế cũng được xếp thành một ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Cách tiếp cận này rõ ràng thiếu tính khoa học và mang nhiều yếu tố chủ quan.

Do vậy, chỉ khi xây dựng được phương pháp luận phân loại ngành nghề kinh doanh có điều kiện, Nhà nước mới có thể xác định ngành nào cần quản lý, ngành nào không cần quản lý, và nếu quản lý thì nên theo hướng tiền kiểm hay hậu kiểm. Nếu làm một cách nghiêm túc, số lượng ngành nghề kinh doanh có điều kiện có thể giảm xuống còn vài chục ngành, đúng với tinh thần quyền tự do kinh doanh của người dân trong Hiến pháp.

Khi cải cách không chỉ dừng lại ở việc ban hành văn bản và chính sách tạo nên những tác động tích cực trong thực tế, cộng đồng doanh nghiệp mới có thể xem sự nghiệp của mình là một phần của hành trình phát triển đất nước, vì lợi ích của quốc gia và dân tộc để Việt Nam có tiềm lực hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/mo-rong-khong-gian-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-post970529.html