Một năm thực hiện Nghị quyết 71: Thách thức ở khả năng thực thi và sự đồng bộ của cả hệ thống
(NB&CL) Sau một năm triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW (gọi tắt là Nghị quyết 71), nhiều chủ trương lớn về giáo dục đã được thể chế hóa và bắt đầu đi vào cuộc sống, từ miễn học phí, sắp xếp mạng lưới trường học đến đào tạo nhân lực STEM và chuyển đổi số. Nhưng khi những “đường ray” chính sách dần được thiết lập, thách thức giờ đây không còn nằm ở việc ban hành thêm quy định, mà ở năng lực đưa chúng thành kết quả thực chất.
Những thay đổi tích cực
Một năm trước, yêu cầu đặt ra với Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo là tạo chuyển biến mạnh từ nhận thức đến hành động. Sau một năm, theo Thông báo kết luận số 160-TB/VPTW của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, nhiều điểm nghẽn tồn tại lâu năm đã từng bước được tháo gỡ.
Toàn hệ thống chính trị đã triển khai Nghị quyết với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, tạo chuyển biến về thể chế, chính sách, huy động nguồn lực và phương thức quản trị. Đến giữa tháng 8, 35 trong 76 nhiệm vụ cụ thể đã hoàn thành, không có nhiệm vụ quá hạn.
Chính sách miễn học phí được triển khai. Việc sắp xếp các trường mầm non, phổ thông cơ bản hoàn thành. Chủ trương thống nhất một bộ sách giáo khoa được thực hiện. Tại các xã biên giới, 108 trong tổng số 248 trường phổ thông nội trú liên cấp được xây dựng trong giai đoạn đầu, bổ sung 4.396 phòng học, đáp ứng nhu cầu học tập cho gần 113.000 học sinh.
Ở một hướng khác, giáo dục đang được đặt gần hơn với bài toán nhân lực cho nền kinh tế. Tỷ lệ sinh viên nhập học các ngành STEM năm 2026 tăng 33,6%; khoảng 110.000 sinh viên theo học các ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. 90 chương trình tài năng kỹ sư, thạc sĩ STEM được triển khai tại 23 cơ sở giáo dục đại học.
Những con số này cho thấy một sự dịch chuyển trong cách nhìn về giáo dục: từ một lĩnh vực cần đầu tư để đáp ứng nhu cầu xã hội sang một động lực trực tiếp của phát triển, nhất là trong bối cảnh đất nước đặt yêu cầu cao hơn về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Sinh viên Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: VNUHCM
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá điểm đáng chú ý nhất sau một năm là vị trí của giáo dục trong chiến lược phát triển đất nước đã được nhìn nhận rõ hơn.
“Giáo dục gắn trực tiếp với chất lượng nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia”, ông Đức nói.
Cùng với thể chế và đào tạo, chuyển đổi số cũng tạo một lớp thay đổi khác. Cơ sở dữ liệu ngành giáo dục hiện quản lý thông tin của khoảng 50.000 cơ sở giáo dục, hơn 27 triệu học sinh và trên 1,4 triệu giáo viên. Đến tháng 8/2026, hơn 16 triệu học bạ số và trên 8 triệu văn bằng, chứng chỉ đã được tiếp nhận, số hóa.
Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn đánh giá sau năm đầu tiên, các chủ trương, định hướng của Nghị quyết 71 cơ bản được thể chế hóa. Các chính sách đối với nhà giáo, người học, tự chủ, phân cấp, phân quyền và tài chính giáo dục tiếp tục được hoàn thiện.
Điểm nghẽn không còn nằm chủ yếu ở chủ trương
Ông Đức cho rằng, thách thức lớn hiện nay không còn chủ yếu là “thiếu chủ trương”, mà là khả năng thực thi và sự đồng bộ của cả hệ thống.
Một trường đại học muốn tự chủ và đổi mới không chỉ liên quan đến Luật Giáo dục đại học. Nhà trường còn phải vận hành trong các quy định về khoa học - công nghệ, đầu tư công, ngân sách, tài sản công, nhân sự, lao động, thuế, đất đai... Nếu một mắt xích vẫn vận hành theo tư duy xin - cho hoặc nặng về kiểm soát thủ tục, những cơ chế mới rất dễ bị giảm hiệu lực khi đi vào đời sống.
Tự chủ đại học là ví dụ rõ nhất. Trao quyền nhưng không trao đủ nguồn lực sẽ khiến tự chủ khó đi xa. Ngược lại, trao quyền mà thiếu cơ chế giải trình, kiểm soát chất lượng cũng tiềm ẩn rủi ro.
“Nếu trao trách nhiệm mà quyền quyết định vẫn phân tán, hoặc trao quyền nhưng không có nguồn lực và đội ngũ quản trị tương xứng, tự chủ sẽ trở nên hình thức”, ông Đức nêu.
Giáo dục đại học hiện đứng trước 3 nút thắt lớn: Nguồn lực, con người và quản trị.
Nghiên cứu đỉnh cao không thể phát triển bằng những khoản đầu tư ngắn hạn, chia đều. Cần tập trung nguồn lực cho các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm xuất sắc và những lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Nhưng tiền chưa đủ. Một phòng thí nghiệm hiện đại sẽ khó tạo ra nghiên cứu tốt nếu không có người đủ năng lực vận hành. Muốn giữ được nhà khoa học giỏi, các trường cần môi trường nghiên cứu, thu nhập, hạ tầng và cơ hội phát triển nghề nghiệp đủ sức cạnh tranh.
Đồng thời, cách sắp xếp mạng lưới giáo dục đại học cũng cần tránh tư duy chỉ nhìn vào số lượng đầu mối.
“Sắp xếp là phương tiện, nâng cao chất lượng mới là mục tiêu”, ông Đức nhấn mạnh.
Theo đó, hai cơ sở yếu ghép lại chưa chắc thành một cơ sở mạnh. Sau sáp nhập, phải xác định được cơ sở mới phát triển theo hướng nào, lĩnh vực nào được ưu tiên, nguồn lực được tổ chức lại ra sao và chất lượng tăng lên thế nào. Nói cách khác, không thể chỉ có đề án sáp nhập mà thiếu đề án phát triển sau sáp nhập.
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cũng nhìn nhận một thách thức đáng chú ý: “Cùng một cơ chế, chính sách nhưng năng lực tổ chức thực hiện giữa các địa phương, cơ sở giáo dục còn khác nhau. Trong điều kiện nguồn lực hạn chế, phân bổ thế nào để tạo hiệu quả cao nhất cũng là bài toán không dễ”.Vì vậy, ông Đức mong muốn, năm thứ hai cần ít việc hơn nhưng làm sâu hơn, thay vì tiếp tục mở rộng hàng loạt chương trình, đề án.
Trước hết là xử lý những “mắt xích cuối” của thể chế. Những quy định còn gây vướng cho tự chủ đại học, tuyển dụng nhân tài, đầu tư phòng thí nghiệm, mua sắm thiết bị nghiên cứu, sử dụng tài sản công hay thương mại hóa kết quả khoa học cần được rà soát cụ thể. Mỗi vướng mắc phải có cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn xử lý.
Sau đó là tập trung nguồn lực. Thay vì phân bổ tương đối dàn trải, nguồn lực cần đi theo sứ mạng, chất lượng và kết quả. Đại học nghiên cứu, khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ chiến lược, R&D và đào tạo sau đại học phải có những ưu tiên tương xứng nếu muốn tạo ra năng lực cạnh tranh mới.
Một việc khác không thể chậm là xây dựng đội ngũ. Cơ chế thu hút nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế và người trẻ có năng lực cần đủ hấp dẫn để họ lựa chọn ở lại, trở về và phát triển lâu dài trong hệ thống giáo dục.
Đồng thời, đào tạo phải được nối với thị trường lao động bằng dữ liệu thay vì chỉ bằng dự báo cảm tính. Dữ liệu về tuyển sinh, chương trình đào tạo, nhu cầu nhân lực, việc làm và doanh nghiệp cần được kết nối để các trường biết xã hội thực sự cần gì và người học ra trường đang đáp ứng đến đâu.
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho rằng năm học tới, ngành giáo dục còn phải tiếp tục mở rộng cơ hội học tập, bảo đảm công bằng và chất lượng giữa các vùng miền; giữ kỷ cương, an toàn trường học, phòng chống bạo lực, gian lận, tiêu cực; đồng thời chuẩn bị nguồn nhân lực cho những lĩnh vực then chốt và chiến lược.
Như vậy, sau một năm, phần việc “mở đường” bằng thể chế và chính sách đã có những bước tiến đáng kể. Nhưng giáo dục không tạo ra kết quả chỉ bằng tốc độ ban hành văn bản. Năm thứ hai triển khai Nghị quyết 71 sẽ là giai đoạn quan trọng để kiểm chứng một điều khó hơn: Những chính sách đã được ban hành có thực sự làm thay đổi lớp học, giảng đường, phòng thí nghiệm và cơ hội việc làm của người học hay không.
