Một số chính sách, pháp luật về đào tạo nghề đối với người khuyết tật
Đào tạo nghề cho người khuyết tật là một trong những nội dung quan trọng trong công tác trợ giúp họ ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Đây cũng là một trong những yếu tố căn bản bảo đảm thực hiện quyền người khuyết tật theo Luật Người khuyết tật và Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật.

Một phiên giao dịch việc làm lồng ghép tuyển dụng lao động khuyết tật tại Hà Nội, tháng 11/2025. (Ảnh nhandan.vn)
Vấn đề này luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạo nhằm giúp người khuyết tật phát huy hết khả năng của mình; tạo điều kiện để người khuyết tật vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế-xã hội, góp phần xây dựng cộng đồng và xã hội.
Nhiều chính sách, pháp luật về đào tạo nghề đối với người khuyết tật
Theo đánh giá của Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo), hệ thống các văn bản luật quy định khá toàn diện, thống nhất về đào tạo nghề đối với người khuyết tật.
Cụ thể như: Luật Người khuyết tật ngày 17/6/2010, quy định về chính sách đào tạo nghề đối với người khuyết tật (Điều 32).
Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 có quy định về chính sách đối với người học, trong đó có đối tượng là người khuyết tật (Điều 26); chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo cho doanh nghiệp khi tổ chức đào tạo trình độ sơ cấp cho người yếu thế (Điều 32).
Luật Giáo dục năm 2019, quy định trường, lớp dành riêng cho người khuyết tật (Điều 63); chính sách đối với nhà giáo cho người khuyết tật (Điều 77) và chính sách học bổng, trợ cấp xã hội, miễn, giảm học phí, hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt đối với người khuyết tật (Điều 85 và được sửa đổi tại Khoản 23 Điều 1 Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục).
Cùng với đó, có hệ thống các văn bản của Thủ tướng Chính phủ được ban hành đồng bộ quy định cụ thể chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề cho người khuyết tật.
Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng có quy định về đối tượng được hỗ trợ là người khuyết tật và nhấn mạnh: “Ưu tiên người khuyết tật và các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh, lao động nữ bị mất việc làm, ngư dân".
Chính sách hỗ trợ gồm nhiều nội dung về chi phí đào tạo, tiền ăn, tiền đi lại.
Người khuyết tật được hỗ trợ tối đa 6 triệu đồng/người/khóa học.
Người khuyết tật và các đối tượng (người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người bị thu hồi đất canh tác, ngư dân) được hỗ trợ tiền ăn với mức 30.000 đồng/người/ngày thực học. Đồng thời, được hỗ trợ tiền đi lại với mức 300.000 đồng/người/khóa học, nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 5km trở lên.
Ngoài những mức hỗ trợ nêu trên, các bộ, ngành, địa phương, cơ sở đào tạo tùy điều kiện và khả năng, huy động thêm các nguồn kinh phí khác để hỗ trợ thêm cho người học trong thời gian đào tạo.
Quyết định số 53/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chính sách nội trú đối với học sinh, sinh viên học cao đẳng, trung cấp có quy định: Đối tượng được hưởng chính sách nội trú khi tham gia chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp gồm: Người khuyết tật; Người tốt nghiệp trường phổ thông dân tộc nội trú (trong đó ưu tiên người khuyết tật); người khuyết tật có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo.
Mức học bổng chính sách bằng 100% mức tiền lương cơ sở tháng đối với học sinh, sinh viên người khuyết tật; 80% mức tiền lương cơ sở tháng đối với người khuyết tật có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo.
Quyết định số 1190/QĐ-TTg ngày 5/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021-2030 đã đưa ra mục tiêu giai đoạn 2021-2025 hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm cho 200.000 người khuyết tật có nhu cầu và đủ điều kiện; hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất thiết bị cho 6 cơ sở giáo dục nghề nghiệp chuyên biệt để đào tạo nghề nghiệp cho người khuyết tật tại 6 vùng kinh tế-xã hội trong cả nước và cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo nghề cho người khuyết tật; 90% người khuyết tật có nhu cầu và đủ điều kiện được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo quy định; giai đoạn 2026-2030 có 300.000 người khuyết tật có nhu cầu và đủ điều kiện được hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm, hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất thiết bị cho 6 cơ sở giáo dục nghề nghiệp chuyên biệt để đào tạo nghề nghiệp cho người khuyết tật tại 6 vùng kinh tế-xã hội trong cả nước và cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo nghề cho người khuyết tật; 100% người khuyết tật có nhu cầu và đủ điều kiện được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo quy định.
Nghị định số 81/2021/NĐ-CP ngày 27/8/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo quy định sinh viên khuyết tật được miễn học phí và học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên theo chương trình giáo dục phổ thông bị khuyết tật được hỗ trợ chi phí học tập.
Quyết định 328/QĐ-TTg ngày 24/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2030” đưa ra mục tiêu: Bình quân hằng năm đào tạo, đào tạo lại, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho khoảng 1,5 triệu lao động nông thôn, trong đó, đào tạo nghề phi nông nghiệp chiếm khoảng 70%, đào tạo nghề nông nghiệp, phát triển ngành nghề nông thôn chiếm khoảng 30%; số lao động nông thôn là nữ được đào tạo nghề chiếm trên 45%, người khuyết tật có nhu cầu được hỗ trợ học nghề, tạo việc làm chiếm khoảng 4%, người dân tộc thiểu số trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số và đặc thù của vùng dân tộc thiểu số chiếm khoảng 70%. Quyết định cũng đưa ra một trong các nhiệm vụ giải pháp là “Chú trọng hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng cho người thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người có đất bị thu hồi, ngư dân, người lao động ở xã đặc biệt khó khăn, lao động bị mất việc làm do ảnh hưởng bởi dịch bệnh, biến đổi khí hậu và các đối tượng lao động nông thôn khác theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ".
Song song với đó là các hướng dẫn nội dung đặc thù về tổ chức đào tạo nghề và nguồn lực bảo đảm để thực hiện các chính sách đối với người khuyết tật được quy định riêng trong các văn bản của các bộ nhằm tạo điều kiện để người khuyết tật tham gia học nghề.
Có thể kể đến Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (trước đây), Bộ Tài chính quy định chính sách về giáo dục đối với người khuyết tật; Thông tư số 42/2015/TT-BLĐTBXH và số 43/2015/TT-BLĐTBXH ngày 20/10/2015 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội quy định về tổ chức lớp đào tạo nghề, trong đó có quy định cụ thể về lớp học kiến thức nghề, kỹ năng cần thiết khác dành cho người dân tộc thiểu số rất ít người, người khuyết tật hoặc người mù...
Tăng cường đầu tư cho các cơ sở đào tạo nghề cho người khuyết tật
Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên cũng cho biết, cả nước, từng địa phương có danh mục nghề đào tạo, định mức chi phí đào tạo được xây dựng, rà soát, phê duyệt để đào tạo hòa nhập và đào tạo chuyên biệt cho người khuyết tật.
Theo số liệu từ các bộ, ngành, địa phương, bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2010-2020 có từ 17.000-20.000 người khuyết tật được hỗ trợ đào tạo, chủ yếu được thực hiện theo Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020".
Các tỉnh, thành phố đã chủ động xây dựng, rà soát, phê duyệt danh mục 4.355 lượt nghề đào tạo, 3.657 định mức chi phí đào tạo làm căn cứ thực hiện đào tạo cho lao động nông thôn và đào tạo hòa nhập cho người khuyết tật.
Các địa phương cũng đã lựa chọn, phê duyệt danh mục và định mức chi phí đào tạo cho trên 950 lượt nghề để tổ chức đào tạo chuyên biệt đối với người khuyết tật.
Công tác đầu tư cho các cơ sở đào tạo nghề cho người khuyết tật được tăng cường.
Có 4 cơ sở giáo dục nghề nghiệp được lựa chọn để đào tạo nghề trọng điểm cấp độ quốc gia cho người khuyết tật gồm: Trường trung cấp nghề cho người khuyết tật Thái Bình (cũ); Trường trung cấp nghề Thanh thiếu niên khuyết tật đặc biệt khó khăn Thanh Hóa: Trường Trung cấp nghề Nhân Đạo Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong giai đoạn từ năm 2011-2015, đã có 4 cơ sở đào tạo nghề cho người khuyết tật được hỗ trợ đầu tư từ nguồn ngân sách trung ương, với ngân sách khoảng 18,4 tỷ đồng.
Trong giai đoạn 2016-2020, kinh phí hỗ trợ từ Dự án “Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp” thuộc Chương trình mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp-Việc làm và An toàn lao động giai đoạn 2016-2020 là 49 tỷ đồng.
Theo số liệu từ các bộ, ngành, địa phương, bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2010-2020 có từ 17.000-20.000 người khuyết tật được hỗ trợ đào tạo, chủ yếu được thực hiện theo Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020".











