Mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp đối mặt 'rào cản' cơ chế

Mặt bằng lãi suất cao và một số 'điểm nghẽn kỹ thuật' trong cơ chế vận hành của nền kinh tế khiến không ít doanh nghiệp, hộ kinh doanh chọn chọn thu hẹp quy mô và chia nhỏ hoạt động thay vì tiếp tục phát triển.

Đảng và Chính phủ hướng tới mục tiêu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030 theo Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị. Trong bối cảnh cả nước có gần 1 triệu doanh nghiệp, cần thêm 1 triệu doanh nghiệp nữa gia nhập thị trường trong 5 năm tới để hoàn thành mục tiêu.

Nhưng tại một tọa đàm về nhìn lại 1 năm thực hiện Nghị quyết 68 diễn ra ngày 13-5, TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), cho biết tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường so với số doanh nghiệp rút lui đang giảm dần qua từng giai đoạn. Đơn cử, tỷ lệ này là 2 doanh nghiệp gia thập thay thế 1 doanh nghiệp rời thị trường vào giai đoạn 2016 – 2020, nhưng giai đoạn từ năm 2021 tới nay thì tỷ lệ này chỉ còn xấp xỉ 1 thay thế 1.

“Nếu xu hướng này tiếp diễn thì gần như không thể đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030”, ông Cung dự báo.

Mọi chính sách về kinh tế tư nhân cần được chuyển hóa thành quyền và nghĩa vụ pháp lý của từng cá nhân doanh nhân, từng doanh nghiệp. Ảnh: LÊ VŨ

Mọi chính sách về kinh tế tư nhân cần được chuyển hóa thành quyền và nghĩa vụ pháp lý của từng cá nhân doanh nhân, từng doanh nghiệp. Ảnh: LÊ VŨ

Bổ sung, TS Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, cho biết điểm đáng lo là tình trạng suy giảm đầu tư tư nhân dần hiện hữu do mặt bằng lãi suất cao và một số “điểm nghẽn kỹ thuật” trong cơ chế vận hành của nền kinh tế.

Chẳng hạn, quy định “tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng quốc doanh không được tính là nguồn vốn huy động để xác định tỷ lệ an toàn vốn” khiến các ngân hàng phải tăng huy động trên thị trường để cân đối thanh khoản và tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất.

Với hộ kinh doanh, quy định hộ có doanh thu trên một ngưỡng nhất định phải kê khai đầy đủ hóa đơn, chứng từ là cần thiết vì giúp tăng tính minh bạch. Tuy nhiên, phần lớn hộ kinh doanh nhỏ lại gặp khó khăn do phần lớn nguyên liệu đầu vào ược mua từ chợ truyền thống hoặc các nguồn chưa hình thành hệ thống hóa đơn đầy đủ.

“Quán ăn, quán phở nhỏ tại đô thị hoàn toàn có thể đạt doanh thu trên 1 tỉ đồng mỗi năm, nhưng việc lấy đầy đủ hóa đơn đầu vào không dễ thực hiện. Điều này khiến một số hộ chọn thu hẹp quy mô, chia nhỏ hoạt động hoặc tách doanh thu cho nhiều thành viên trong gia đình để giảm áp lực kê khai”, ông Nghĩa phân tích.

Bổ sung, TS Nguyễn Đình Cung cho biết hệ thống ngành nghề kinh doanh có điều kiện hiện còn thiếu cơ sở khoa học khi nhiều quy định được xây dựng mang tính chủ quan - tức có lĩnh vực quá rộng hoặc quá hẹp, dẫn tới quản lý chồng chéo và thiếu hiệu quả.

Chẳng hạn, trong các ngành như hóa chất, thủy sản hay các loại chứng chỉ hành nghề kỹ sư, cách tiếp cận quản lý hiện rất khác nhau, thiếu nhất quán. “Vì không có một phương pháp phân loại khoa học nên chính sách rất khó tốt được”, ông Cung nhận định.

Bên cạnh đó, việc tăng cường thanh - kiểm tra doanh nghiệp phần nào tạo tâm lý thận trọng trong khu vực tư nhân. Bởi nếu hoạt động kiểm tra thiếu tính hỗ trợ và thiên về xử lý vi phạm thì họ sẽ có xu hướng ‘phòng thủ’ thay vì mở rộng đầu tư.

Để gỡ khó, các chuyên gia đề nghị rà soát toàn bộ danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, rồi phân loại rõ giữa lĩnh vực thực sự cần quản lý và có thể chuyển sang hậu kiểm để cắt giảm thêm ít nhất một phần ba số điều kiện hiện hành. Rộng hơn, việc cải cách kinh tế phải tiến hành đồng bộ với cải cách cơ chế quản trị và phương thức điều hành với định hướng tư duy là phục vụ doanh nghiệp. “Doanh nghiệp cần được nhìn nhận là đối tượng phục vụ chứ không chỉ là đối tượng quản lý”, TS Nghĩa nhấn mạnh.

Vân Phong

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/muc-tieu-2-trieu-doanh-nghiep-doi-mat-rao-can-co-che/