Nâng 'giá trị Việt' trong chuỗi sản xuất toàn cầu

Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu, tạo nền tảng xuất khẩu lớn và mở rộng thị trường thông qua mạng lưới các hiệp định thương mại tự do. Bước tiếp theo là tiến vào những công đoạn có giá trị cao hơn, qua đó gia tăng phần giá trị được tạo ra và giữ lại trong nền kinh tế.

Tạo sức bật từ giá trị nội địa

Theo ông Norihiko Yamano, chuyên gia kinh tế Vụ Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), kim ngạch xuất khẩu chưa phản ánh đầy đủ vị trí của một nền kinh tế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Quan trọng hơn là phần giá trị thực sự được tạo ra trong nước.

 Sản xuất hàng xuất khẩu tại một doanh nghiệp ở TPHCM. Ảnh: Minh Xuân

Sản xuất hàng xuất khẩu tại một doanh nghiệp ở TPHCM. Ảnh: Minh Xuân

Nhìn từ quy mô, Việt Nam đã tạo được nền tảng xuất khẩu lớn. Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt khoảng 476 tỷ USD và ước đạt 374 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2026. Tuy nhiên, khi đo bằng giá trị gia tăng, phần giá trị nội địa vẫn còn nhiều khả năng để nâng lên. Dữ liệu thương mại tính theo giá trị gia tăng (TiVA) của OECD cho thấy giá trị gia tăng nước ngoài chiếm khoảng 48% xuất khẩu của Việt Nam, cao hơn mức bình quân 30,4% của các nền kinh tế OECD. Cùng với đó, khu vực FDI hiện chiếm khoảng 81% kim ngạch xuất khẩu, trong khi doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 19%. Những con số này cho thấy mức độ tham gia sâu của Việt Nam vào chuỗi sản xuất toàn cầu, đồng thời cho thấy khoảng trống còn lớn để doanh nghiệp trong nước tham gia nhiều hơn và gia tăng phần giá trị được tạo ra trong nền kinh tế.

Từ thực tế doanh nghiệp, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, nhận định, điểm nghẽn nằm ở khả năng tạo và giữ giá trị trong chuỗi. Ngay với mặt hàng gạo, Việt Nam có lợi thế và sở hữu nhiều giống chất lượng cao như ST25, Jasmine, nhưng thương hiệu quốc gia vẫn chưa đủ mạnh nên không ít sản phẩm còn phải cạnh tranh bằng giá. Liên kết giữa doanh nghiệp và vùng nguyên liệu cũng chưa chặt; việc thu mua qua nhiều trung gian làm tăng chi phí và hạn chế khả năng hình thành chuỗi trực tiếp từ vùng nguyên liệu đến chế biến, thương mại.

Ở khía cạnh khác, bà Vân Nguyễn, Phụ trách Chương trình nghị sự khu vực, Trung tâm Sản xuất tiên tiến và Chuỗi cung ứng thuộc Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), nhìn nhận, “luật chơi” của chuỗi cung ứng toàn cầu đang thay đổi. Nhiều tập đoàn toàn cầu đang điều chỉnh cách lựa chọn địa điểm sản xuất và đối tác. Sự dịch chuyển này đặt ra yêu cầu mới đối với vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi, khi lợi thế chi phí lao động và năng lực gia công không còn đủ để tạo sức cạnh tranh dài hạn.

Cơ hội từ thị trường số

Với 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đang có hiệu lực, Việt Nam đã kết nối với các thị trường chiếm hơn 80% GDP toàn cầu. Riêng ASEAN có khoảng 680 triệu dân, GDP gần 3.900 tỷ USD; Hiệp định Khung Kinh tế số ASEAN (DEFA) được kỳ vọng tiếp tục mở rộng không gian kinh tế số của khu vực. Tiềm năng thị trường vì thế còn rất lớn, song bài toán đặt ra không chỉ là bán được nhiều hàng hơn, mà là doanh nghiệp Việt tham gia được bao nhiêu khâu và giữ lại bao nhiêu giá trị từ thị trường đó.

Theo ông Nguyễn Đức Huy, Phó Giám đốc Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tại TPHCM (C4IR TPHCM), Việt Nam cần phát triển hệ thống nhà cung cấp nội địa, nâng năng lực công nghệ, dịch vụ và từng bước đưa doanh nghiệp vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn. Quá trình này phải bắt đầu từ chính doanh nghiệp, với việc đẩy mạnh sản xuất thông minh, ứng dụng công nghệ số, minh bạch dữ liệu chuỗi cung ứng, tăng khả năng kết nối với đối tác và duy trì chất lượng ổn định ở quy mô lớn. Theo bà Vân Nguyễn, cơ hội từ thị trường số ASEAN và toàn cầu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi dữ liệu, tiêu chuẩn số, công nghệ và nhân lực có khả năng liên thông.

Tăng chế biến sâu, phát triển chuỗi cung ứng trong nước

Tuy nhiên, tham gia được vào chuỗi mới chỉ là bước đầu. Để giữ lại phần giá trị lớn hơn, doanh nghiệp phải tiến dần từ gia công, cung ứng đơn thuần sang những khâu có hàm lượng công nghệ cao hơn, chế biến sâu hơn và giá trị thương hiệu lớn hơn. PGS-TS Hoàng Kim Anh, Hội Khoa học và Công nghệ Lương thực - Thực phẩm Việt Nam (VAFoST), cho rằng, doanh nghiệp cần chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang tạo giá trị bằng chế biến sâu, nhất là với sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên và thành phần chức năng. Khi hàm lượng chế biến, công nghệ và giá trị thương hiệu tăng lên, doanh nghiệp không chỉ nâng giá trị sản phẩm mà còn có thêm khả năng ứng phó với biến động chi phí và củng cố sức cạnh tranh.

Ông Devendra Jain, Trưởng nhóm Trí tuệ nhân tạo và Công nghệ Tiên phong, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF):

Tăng giá trị nội địa bằng công nghệ

Muốn nâng phần giá trị giữ lại trong nền kinh tế, doanh nghiệp không thể chỉ dừng ở việc tăng tỷ lệ nguyên liệu nội địa hay mở rộng năng lực gia công. Tiềm năng lớn hơn nằm ở khả năng đưa công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo vào chính quá trình sản xuất và vận hành chuỗi cung ứng. Theo đó, hạ tầng số tích hợp và các nền tảng trí tuệ công nghiệp dùng chung đang trở thành lớp kết nối giữa sản xuất, logistics, dữ liệu và thị trường. Khi doanh nghiệp có thể kết nối những khâu này trên cùng một nền tảng, dữ liệu không chỉ phục vụ quản lý mà còn giúp tối ưu sản xuất, dự báo nhu cầu, nâng hiệu quả vận hành và tăng khả năng tham gia vào những công đoạn có giá trị cao hơn của chuỗi.

Với Việt Nam, điều này có nghĩa nội địa hóa cần được hiểu rộng hơn. Đó là tăng sản xuất linh kiện, nguyên liệu trong nước, đồng thời từng bước làm chủ công nghệ, dữ liệu, năng lực vận hành và các dịch vụ giá trị gia tăng. Khi những “lớp giá trị” này được tạo ra trong nước, phần giá trị giữ lại sau mỗi đơn hàng xuất khẩu mới thực sự tăng lên.

Hiện Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 đặt mục tiêu nâng năng lực sản xuất, tỷ lệ nội địa hóa và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nghị quyết 138/NQ-CP cũng định hướng tăng liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa, hỗ trợ đáp ứng tiêu chuẩn, chuyển giao công nghệ và thúc đẩy sử dụng chuỗi cung ứng trong nước.

Vấn đề còn lại là chuyển mạnh từ xúc tiến, mở thị trường sang phát triển nhà cung cấp nội địa, trong đó ưu tiên tín dụng cho đổi mới công nghệ, chuyển đổi số; hỗ trợ doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn, chứng nhận quốc tế, đầu tư nghiên cứu - phát triển và đào tạo nhân lực kỹ thuật. Chính sách thu hút FDI cũng cần gắn chặt hơn với phát triển chuỗi cung ứng trong nước, khuyến khích các doanh nghiệp đầu chuỗi tăng mua hàng từ doanh nghiệp Việt, hỗ trợ thử nghiệm sản phẩm, đào tạo nhà cung cấp và chuyển giao công nghệ... Khi đó, tăng trưởng xuất khẩu không chỉ thể hiện ở kim ngạch mà còn kéo theo sự lớn lên của doanh nghiệp nội địa và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

MINH XUÂN

Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/nang-gia-tri-viet-trong-chuoi-san-xuat-toan-cau-post869979.html