Nâng hạng là điểm khởi đầu, nâng chất mới tạo sức hút và giữ dòng vốn dài hạn
Nâng hạng không phải là đích đến, mà là điểm khởi đầu cho quá trình 'nâng chất' thị trường chứng khoán Việt Nam. Để tiệm cận chuẩn mực quốc tế, thị trường cần cải thiện đồng thời chất lượng hàng hóa, hạ tầng vận hành và đặc biệt là cấu trúc dòng vốn theo hướng dài hạn, chuyên nghiệp hơn.
Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Văn Huy - Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư, Công ty cổ phần FIDT xung quanh chủ đề này.
PV:Thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày càng tiến gần hơn tới cột mốc nâng hạng. Sau khi được nâng hạng, thách thức đặt ra không còn nằm ở quy mô, mà là chất lượng. Theo ông, bài toán nâng chất của thị trường hiện nay nằm ở đâu?
Ông Bùi Văn Huy: Sau hơn hai thập kỷ phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt được bước tiến rõ rệt về quy mô vốn hóa và thanh khoản. Khi câu chuyện nâng hạng trở thành hiện thực, thách thức trọng tâm không còn là tăng quy mô, mà là nâng chất lượng của thị trường. Theo tôi, bài toán nâng chất hiện nay tập trung vào hai nhóm vấn đề lớn là chất lượng hàng hóa và chất lượng thị trường.
Về chất lượng và cơ cấu hàng hóa trên thị trường, hiện cơ cấu niêm yết vẫn tập trung nhiều vào một số nhóm ngành truyền thống như tài chính và bất động sản cùng một số doanh nghiệp quy mô lớn, trong khi các lĩnh vực phản ánh xu hướng tăng trưởng mới của nền kinh tế chưa hiện diện đủ mạnh. Một thị trường chất lượng cần có thêm doanh nghiệp niêm yết tốt, minh bạch, quản trị chuẩn và có khả năng thu hút nhà đầu tư tổ chức dài hạn.
Đồng thời, thị trường cũng cần mở rộng bộ công cụ đầu tư để nhà đầu tư có thể quản trị rủi ro và triển khai chiến lược đa dạng hơn. Việc thiếu các nghiệp vụ và sản phẩm hiện đại như giao dịch trong ngày, bán khống theo cơ chế chuẩn, sản phẩm quyền chọn và các cấu phần thị trường phái sinh phát triển đầy đủ đang làm giảm mức độ hấp dẫn đối với dòng vốn tổ chức lớn, vốn yêu cầu khả năng giao dịch hai chiều và phòng vệ danh mục.
Cùng với đó, hạ tầng thị trường và cách thức quản lý giao dịch cần tiệm cận hơn với thông lệ quốc tế. Một số vấn đề cần lời giải rõ ràng và dứt điểm, như triển khai cơ chế bù trừ trung tâm, chuẩn hóa quy trình hậu giao dịch và nâng mức an toàn vận hành. Bên cạnh đó, cần tăng mức độ thuận tiện trong chuyển đổi ngoại tệ, tính nhất quán và minh bạch trong điều hành...
Về tư duy quản lý, theo tôi, kỷ luật thị trường phải được thực thi nghiêm, nhưng các rào cản hành chính và rào cản kỹ thuật cần được rà soát để đơn giản hóa, từ đó nâng chất lượng thị trường theo đúng chuẩn mà các dòng vốn dài hạn yêu cầu.
Nâng hạng có thể tạo lực hút ban đầu, nhưng để chuyển sang thu hút nhà đầu tư dài hạn, phải cải thiện đồng thời năng lực nhà đầu tư, kỷ luật thị trường, độ ổn định vĩ mô và hệ sản phẩm tích lũy. Đây là các điều kiện cốt lõi để chất lượng dòng vốn thay đổi một cách bền vững.

Ông Bùi Văn Huy
PV: Nâng hạng được kỳ vọng sẽ kéo theo sự thay đổi về cấu trúc và hành vi nhà đầu tư. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, số lượng lớn chưa hẳn đồng nghĩa với chất lượng cao. Ông có đề xuất giải pháp gì để thị trường có thể thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư chuyên nghiệp, dài hạn?
Ông Bùi Văn Huy: Tính đến tháng 2/2026, tổng số tài khoản chứng khoán tại Việt Nam đã đạt hơn 12,3 triệu tài khoản. Tuy nhiên, số tài khoản giao dịch thường xuyên không thực sự lớn, trong khi nhóm nhà đầu tư có kỷ luật, cách tiếp cận bài bản và nắm giữ dài hạn vẫn còn mỏng. Vì vậy, mục tiêu của giai đoạn sau nâng hạng không chỉ là đông người tham gia, mà là thay đổi chất lượng tham gia.
Để chuyển dịch sang cấu trúc nhà đầu tư chuyên nghiệp và dài hạn, thị trường cần đồng thời hội đủ một số điều kiện nền tảng.
Thứ nhất, nâng mức phổ cập tài chính và năng lực ra quyết định đầu tư. Việc mở tài khoản chỉ là bước đầu; quan trọng hơn là nhà đầu tư hiểu rủi ro, hiểu sản phẩm, hiểu kỳ vọng lợi suất theo chu kỳ và có nguyên tắc phân bổ tài sản. Khi năng lực ra quyết định tốt hơn, nhà đầu tư sẽ giảm phụ thuộc vào tin đồn hoặc biến động ngắn hạn và có khả năng theo đuổi chiến lược dài hạn.
Thứ hai, tăng kỷ luật thị trường và bảo vệ quyền lợi cổ đông. Cơ quan quản lý cần duy trì chuẩn giám sát nhất quán đối với công bố thông tin, giao dịch bên liên quan, chuẩn quản trị công ty và xử lý vi phạm. Khi rủi ro thông tin giảm và quyền lợi cổ đông được bảo đảm tốt hơn, nhà đầu tư mới sẵn sàng tăng tỷ trọng tài sản và kéo dài thời gian nắm giữ.
Thứ ba, duy trì nền tảng vĩ mô ổn định và tạo được mức độ dự báo cao. Dòng vốn dài hạn không chỉ cần câu chuyện tăng trưởng, mà cần độ tin cậy của tăng trưởng. Môi trường lạm phát, lãi suất và tỷ giá ổn định hơn sẽ giúp nhà đầu tư hình thành kỳ vọng dài hạn, giảm hành vi giao dịch ngắn hạn để tự phòng vệ.
Thứ tư, phát triển hệ sinh thái sản phẩm phục vụ tích lũy dài hạn, đặc biệt là nhóm quỹ. Cần mở rộng và nâng chất quỹ mở, quỹ đóng, ETF, đồng thời cải thiện chất lượng phân phối theo hướng minh bạch và chi phí hợp lý. Khi nhà đầu tư bán chuyên có lựa chọn đầu tư theo danh mục thay vì phải tự chọn cổ phiếu, thị trường sẽ hình thành dòng tiền đều hơn, kỷ luật hơn và ít bị cảm xúc chi phối hơn.

Nâng hạng là điểm khởi đầu, nâng chất mới hút và giữ dòng vốn dài hạn. Ảnh: Đức Thanh
PV:Theo ông, các doanh nghiệp niêm yết sẽ phải làm gì để thích ứng khi thị trường được nâng hạng?
Ông Bùi Văn Huy: Với doanh nghiệp niêm yết, thị trường hậu nâng hạng thực chất là một bước chuyển từ sân chơi nội địa sang chuẩn mực mà nhà đầu tư tổ chức toàn cầu sử dụng để sàng lọc và phân bổ vốn. Vì vậy, yêu cầu cốt lõi sẽ tập trung vào hai trụ cột là minh bạch thông tin và quản trị doanh nghiệp.
Về minh bạch thông tin, doanh nghiệp không chỉ dừng ở mức đúng, đủ, kịp thời theo quy định, mà phải nâng chất lượng công bố theo hướng nhất quán qua các kỳ, dễ so sánh, có thuyết minh rõ ràng và giải trình được biến động kết quả kinh doanh. Đặc biệt, các thông tin liên quan đến dòng tiền, cấu trúc nợ, nghĩa vụ tài chính, rủi ro thanh khoản, rủi ro pháp lý, rủi ro chu kỳ và các giả định kế hoạch kinh doanh cần được trình bày đầy đủ để nhà đầu tư có thể định giá và quản trị rủi ro.
Song song đó, áp lực tiệm cận các chuẩn mực báo cáo quốc tế như IFRS trở nên rõ rệt hơn, không chỉ nhằm cải thiện hình thức báo cáo, mà quan trọng hơn là tăng độ tin cậy và thu hẹp khoảng trống thông tin khi tiếp cận dòng vốn ngoại.
Về khía cạnh quản trị doanh nghiệp, các quỹ lớn sẽ quan sát rất kỹ tính thực chất của cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực, bao gồm mức độ độc lập của hội đồng quản trị, vai trò của các ủy ban kiểm toán và quản trị rủi ro, sự tách bạch giữa sở hữu và điều hành, cũng như chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ.
Đồng thời, doanh nghiệp phải chứng minh được việc bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số thông qua kỷ luật trong giao dịch với bên liên quan, minh bạch hóa các quyết định phát hành cổ phiếu cho người lao động (ESOP), mua bán - sáp nhập (M&A) và chính sách cổ tức, qua đó hạn chế xung đột lợi ích.
Bên cạnh đó, tiêu chí ESG (môi trường - xã hội - quản trị) đang chuyển mạnh từ yếu tố mang tính định hướng sang tiêu chí sàng lọc phổ biến của nhiều định chế đầu tư, buộc doanh nghiệp phải công bố dữ liệu ESG có cấu trúc và gắn với hoạt động vận hành thực tế.
Tổng thể, thị trường hậu nâng hạng đặt doanh nghiệp trước yêu cầu chuyển đổi từ tư duy niêm yết để tuân thủ sang minh bạch để tạo niềm tin và quản trị để được nắm giữ dài hạn, bởi chỉ những doanh nghiệp đáp ứng được các chuẩn mực này mới có khả năng thu hút và giữ chân dòng vốn chất lượng cao, ổn định và bền vững hơn.
PV: Xin cảm ơn ông!











