Việt Nam cần chuẩn bị gì để hình thành hệ sinh thái năng lượng tái tạo?
Việt Nam đang nghiên cứu phát triển mô hình Trung tâm Năng lượng tái tạo (RE Hub), nhưng kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có một công thức chung mà mỗi nơi phải dựa vào điều kiện và lợi thế riêng để lựa chọn hướng phát triển phù hợp.
Nghiên cứu ban đầu hoàn thành tháng 7-2025 đã xác định hướng phát triển mô hình. Trọng tâm tiếp theo là làm rõ các khu vực có lợi thế, hạ tầng hiện hữu và những mắt xích cần bổ sung để từng bước hình thành chuỗi sản xuất, dịch vụ trong nước.

Một trang trại điện gió tại phường Vĩnh Châu, Thành phố Cần Thơ, Việt Nam. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Trong quá trình này, Bộ Công Thương và Cơ quan Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) tiếp tục trao đổi với các đối tác quốc tế. Chia sẻ với Báo Hànộimới, đại diện Trung Quốc, Đan Mạch và Vương quốc Anh đưa ra những kinh nghiệm khác nhau, từ quy hoạch, cảng biển đến phát triển dịch vụ và nhân lực.

Ông Yu Guiyong, Giám đốc Ban Nghiên cứu Công nghiệp và Hợp tác Quốc tế, Hiệp hội Năng lượng điện gió Trung Quốc (CWEA). Ảnh: Kiều Thoan Thu
Ông Yu Guiyong, Giám đốc Ban Nghiên cứu Công nghiệp và Hợp tác Quốc tế, Hiệp hội Năng lượng điện gió Trung Quốc (CWEA), cho rằng Việt Nam cần chính sách rõ ràng, ổn định và quy hoạch dựa trên dữ liệu tin cậy về tài nguyên.
Doanh nghiệp cần biết cơ chế giá, quy trình phê duyệt và quy định sử dụng không gian biển để tính toán đầu tư dài hạn. Hệ thống dữ liệu về tài nguyên gió ngoài khơi và quy hoạch không gian biển cũng cần đủ rõ để xác định những khu vực có khả năng phát triển.
Cùng với đó, cảng biển, lưới điện, không gian biển và khu công nghiệp phải được tính toán đồng bộ. Cảng cần đáp ứng yêu cầu vận chuyển, lắp đặt thiết bị; lưới điện theo kịp tiến độ phát triển nguồn; khu công nghiệp có khả năng kết nối với chuỗi cung ứng. Theo ông Yu Guiyong, các hạng mục nên được triển khai theo tốc độ phát triển của thị trường, tránh tình trạng doanh nghiệp đã sẵn sàng nhưng hạ tầng chưa đáp ứng hoặc công trình hoàn thành quá sớm khi nhu cầu chưa hình thành.

Bà Nethe Veje Laursen, Tham tán Năng lượng và Khí hậu, Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Tại Đan Mạch, thành phố Esbjerg cho thấy cách một địa phương có thể dựa vào hạ tầng và lực lượng lao động sẵn có để chuyển sang ngành năng lượng mới.
Bà Nethe Veje Laursen, Tham tán Năng lượng và Khí hậu, Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam, cho biết Esbjerg từng là một cảng cá lớn. Khi ngành khai thác thủy sản suy giảm, sự phát triển của điện gió ngoài khơi tạo nhu cầu mới về lưu trữ, vận chuyển, lắp ráp và dịch vụ cho các cấu kiện điện gió, thúc đẩy cảng mở rộng và kéo theo các doanh nghiệp sản xuất, logistics, lắp đặt và bảo trì.
Lao động trong các ngành đánh bắt, dầu khí và vận tải biển cũng được đào tạo để chuyển sang công việc mới.
"Hệ thống cảng biển hiện hữu là một lợi thế mà Việt Nam có thể phát huy khi hình thành các trung tâm năng lượng", bà nhấn mạnh.

Ông Maf Smith, Chuyên gia Tư vấn Đảm bảo Chất lượng, Tổ chức Ocean Energy Pathway (OEP) có trụ sở tại Vương quốc Anh.
Tại vùng Humber của Vương quốc Anh, nơi có Trung tâm Công nghiệp và Năng lượng tái tạo, hoạt động vận hành và bảo dưỡng được tính tới ngay từ quá trình phát triển các dự án điện gió ngoài khơi.
Ông Maf Smith, Chuyên gia Tư vấn Đảm bảo Chất lượng tại Ocean Energy Pathway (OEP), cho biết một trang trại điện gió ngoài khơi có thể hoạt động khoảng 25 năm hoặc lâu hơn. Trong suốt thời gian đó, doanh nghiệp vẫn cần nhân lực, tàu dịch vụ, cơ sở kỹ thuật và logistics.
Việc nhiều dự án điện gió tập trung tại vùng Humber cho phép doanh nghiệp sử dụng chung một đầu mối dịch vụ, đồng thời tập hợp nhân lực, tàu chuyên dụng và cơ sở kỹ thuật. Hệ thống cảng cũng phải đáp ứng hoạt động dài hạn, từ tiếp nhận tàu dịch vụ, duy trì vận hành 24 giờ đến nâng cấp khi nhu cầu tăng.
Cảng, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, trường đại học và cơ sở đào tạo cùng tham gia vào hệ sinh thái này, giúp duy trì việc làm và hoạt động kinh tế khi các dự án chuyển sang giai đoạn vận hành. Theo ông Maf Smith, duy trì năng lực trong thời gian dài đòi hỏi đầu tư vào kỹ năng và lực lượng lao động tại địa phương.

Bà Christiana Hageneder, Giám đốc Chương trình Hỗ trợ Năng lượng của GIZ tại Việt Nam. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Bà Christiana Hageneder, Giám đốc Chương trình Hỗ trợ Năng lượng của GIZ tại Việt Nam, cho rằng quy hoạch dài hạn cần đi cùng khung pháp lý rõ ràng, hạ tầng kết nối và sự phối hợp giữa các cấp chính quyền. Với những dự án cần nhiều năm mới thu hồi vốn, sự ổn định của chính sách và quy hoạch là cơ sở để doanh nghiệp tính toán đầu tư.
Những nội dung này đang được GIZ phối hợp với Cục Điện lực, Bộ Công Thương nghiên cứu trong khuôn khổ Dự án “Thúc đẩy Chuyển dịch ngành năng lượng tại Việt Nam” (TEV), do Chính phủ Đức tài trợ, thực hiện từ tháng 9-2023 đến tháng 12-2026.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy một RE Hub không thể hình thành từ một dự án hay một hạng mục hạ tầng riêng lẻ. Với Việt Nam, trước hết cần xác định những khu vực có lợi thế nền tảng, sau đó từng bước hoàn thiện các mắt xích còn thiếu, phù hợp với tốc độ phát triển của thị trường và khả năng tham gia của doanh nghiệp.


