Nâng tầm du lịch, kiến tạo sức bật mới cho nền kinh tế

Với đóng góp hơn 8% GDP mỗi năm, du lịch đã trở thành một trong những trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế. Nghị quyết số 26-NQ/TW tiếp tục đặt ngành du lịch trước một yêu cầu phát triển mới: Trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có sức lan tỏa và đóng góp lớn hơn vào tăng trưởng. Kỳ vọng đặt ra không chỉ là một ngành du lịch lớn hơn về quy mô, mà còn là một ngành có năng lực tạo giá trị cao hơn, liên kết sâu hơn và đóng góp thực chất hơn vào sức bật của nền kinh tế.

Du lịch hiện đóng góp trực tiếp hơn 8% GDP mỗi năm. Ảnh minh họa: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Du lịch hiện đóng góp trực tiếp hơn 8% GDP mỗi năm. Ảnh minh họa: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Tăng trưởng mạnh nhưng vẫn còn những điểm nghẽn

Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngành du lịch Việt Nam đã có bước tiến mạnh mẽ cả về quy mô, đóng góp kinh tế và vị thế quốc tế. Nếu năm 2015, Việt Nam đón 7,9 triệu lượt khách quốc tế, 57 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch đạt hơn 335.000 tỷ đồng, đóng góp trực tiếp 6,3% GDP thì đến năm 2025, các con số này lần lượt tăng lên gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, 137 triệu lượt khách nội địa, tổng thu khoảng 1 triệu tỷ đồng, đóng góp trực tiếp gần 8,8% GDP.

Vị thế của du lịch Việt Nam trên bản đồ quốc tế cũng được nâng lên đáng kể. Theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Việt Nam tăng 16 bậc, từ hạng 75/141 năm 2015 lên hạng 59/119 năm 2025; đồng thời vươn từ vị trí thứ 5 lên thứ 3 ASEAN về đón khách quốc tế.

Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng vẫn là khoảng cách đáng kể giữa kết quả đạt được với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết 26) đã chỉ rõ nhiều điểm nghẽn cản trở du lịch bứt phá, từ thể chế, nguồn lực, hạ tầng, chất lượng sản phẩm đến năng lực quản trị điểm đến, ứng dụng khoa học - công nghệ và liên kết liên ngành, liên vùng. Đáng chú ý, các điểm nghẽn này đan xen, tác động qua lại, khiến nguồn lực du lịch chưa được chuyển hóa đầy đủ thành giá trị kinh tế.

Phân tích cụ thể, PGS,TS. Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội - cho rằng, điểm nghẽn thể chế của du lịch thể hiện ở cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng chưa hiệu quả, sự phân mảnh trong quản lý khiến liên kết vùng khó phát huy. Cùng với đó, hành lang pháp lý cho các mô hình mới như kinh tế chia sẻ, kinh tế đêm, kinh doanh trên nền tảng số… chưa theo kịp thực tiễn. Các chính sách, thủ tục liên quan đến thị thực, lưu trú của du khách cũng cần cải cách mạnh hơn để nâng sức cạnh tranh, thu hút dòng khách có giá trị cao.

Bên cạnh thể chế, theo ông Nguyễn Quốc Kỳ - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Vietravel, hạ tầng - yếu tố quyết định khả năng kết nối và tiếp cận điểm đến - vẫn là điểm nghẽn lớn của du lịch. Hiện nay, hơn 80% khách quốc tế đến Việt Nam bằng đường hàng không, trong khi năng lực của một số sân bay, tuyến đường và hệ thống giao thông tại các khu vực trọng điểm đang chịu áp lực lớn. Bài toán hạ tầng không chỉ nằm ở các công trình đầu mối mà còn trải dài trong toàn bộ hành trình của du khách, từ giao thông, môi trường, xử lý rác thải đến dịch vụ công cộng.

Đặc biệt, các chuyên gia chỉ rõ, Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú về di sản, cảnh quan, biển đảo, ẩm thực, làng nghề và văn hóa cộng đồng, nhưng chưa được chuyển hóa tương xứng thành những sản phẩm có chiều sâu, sáng tạo và sức cạnh tranh.

Nhiều điểm đến mới tạo được “điểm để đến” nhưng chưa đủ “lý do để ở lại” và “lý do để chi tiêu”. Giá trị văn hóa, di sản chủ yếu vẫn được khai thác theo hướng tham quan, trong khi dư địa phát triển thành những trải nghiệm đặc sắc, kéo dài thời gian lưu trú và tăng chi tiêu còn lớn. Khoảng cách từ tài nguyên đến sản phẩm, trải nghiệm và giá trị kinh tế vì thế vẫn chưa được thu hẹp.

Nghị quyết 26 đặt ra mục tiêu, đến năm 2030, du lịch đóng góp trực tiếp từ 10-12% GDP, giữ vững vị thế nhóm đầu khu vực Đông Nam Á về quy mô và tốc độ tăng trưởng; phấn đấu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD.

Khơi thông nguồn lực, đổi mới mô hình phát triển

Từ những điểm nghẽn đang cản trở quá trình chuyển hóa tiềm năng du lịch thành sức mạnh kinh tế, yêu cầu đặt ra không chỉ là tháo gỡ từng nút thắt riêng lẻ, mà quan trọng hơn là thay đổi cách tiếp cận và mô hình phát triển du lịch. Nghị quyết 26 đã mở ra định hướng mới với mục tiêu đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển theo hướng chất lượng cao và đóng góp lớn hơn cho tăng trưởng hai con số.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, theo các chuyên gia, trước hết cần mở rộng không gian thể chế nhằm giải phóng nguồn lực cho du lịch; tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, cải cách thủ tục hành chính, chính sách thị thực, lưu trú và tạo cơ chế đột phá cho các mô hình kinh tế, du lịch mới như kinh tế chia sẻ, kinh tế đêm, du lịch thông minh… Qua đó, mở rộng không gian cho doanh nghiệp sáng tạo, thu hút nguồn lực và nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách.

Tuy nhiên, thể chế thông thoáng mới là điều kiện. Để tạo giá trị cao hơn, du lịch phải đổi mới sản phẩm. Nghị quyết 26 đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ phát triển dựa vào số lượng sang chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Mỗi điểm đến cần biến cảnh quan, di sản, văn hóa, ẩm thực, làng nghề và đời sống cộng đồng thành những trải nghiệm có bản sắc, đủ sức giữ chân và thúc đẩy chi tiêu của du khách; đồng thời phát triển các loại hình có giá trị cao như du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch hội nghị, du lịch cộng đồng... Khi đó, hiệu quả du lịch không chỉ được đo bằng số lượt khách, mà bằng thời gian lưu trú, mức chi tiêu và giá trị tạo ra cho nền kinh tế.

Sản phẩm hấp dẫn sẽ khó phát huy giá trị nếu thiếu hạ tầng và khả năng kết nối. Vì vậy, cần phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông, đô thị, dịch vụ công cộng, hạ tầng số và môi trường, kết nối các cửa ngõ quốc tế với các trung tâm, điểm đến du lịch. Đồng thời, tăng cường liên kết vùng để hình thành các tuyến, chuỗi sản phẩm bổ trợ, thay vì để các địa phương cạnh tranh trên cùng nguồn khách và sản phẩm tương tự. Khi các điểm đến được kết nối thành một hệ sinh thái, hành trình của du khách được mở rộng, thời gian lưu trú kéo dài và giá trị kinh tế lan tỏa tốt hơn.

Trên nền tảng thể chế thông thoáng, sản phẩm có giá trị và hạ tầng kết nối, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số sẽ tạo thêm động lực nâng cao chất lượng tăng trưởng du lịch. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng dựa vào dữ liệu và khả năng cá nhân hóa trải nghiệm, công nghệ cần được ứng dụng sâu hơn trong quản trị điểm đến, xúc tiến thị trường, phân tích hành vi du khách và cung cấp dịch vụ.

Có thể thấy, Nghị quyết 26 đã xác lập một đích đến mới cho du lịch Việt Nam. Đó không chỉ là mục tiêu đón thêm nhiều du khách, mà là xây dựng một ngành kinh tế có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn, lan tỏa và dẫn dắt các ngành, lĩnh vực khác. Từ một ngành được biết đến bởi tiềm năng phong phú, du lịch Việt Nam cần bước sang giai đoạn phát triển mới, trong đó tiềm năng phải được chuyển hóa thành giá trị, giá trị phải được nâng lên thành sức cạnh tranh và sức cạnh tranh phải trở thành động lực cho tăng trưởng bền vững của nền kinh tế./.

TUẤN MINH

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/nang-tam-du-lich-kien-tao-suc-bat-moi-cho-nen-kinh-te