Nâng tầm nông nghiệp sinh thái: Khi rơm rạ, lá dứa… trở thành tiền

Mỗi mùa vụ, nông nghiệp tạo ra một lượng lớn phụ phẩm như rơm rạ, trấu, cám, thân cây, chất thải chăn nuôi... Nhưng thay vì coi đây là thứ bỏ đi, nhiều mô hình đang biến chúng thành thức ăn, phân bón, năng lượng, vật liệu và nguyên liệu chế biến.

Nông nghiệp tuần hoàn đang được hình thành từ những điều rất gần gũi. Ảnh: H.H

Nông nghiệp tuần hoàn đang được hình thành từ những điều rất gần gũi. Ảnh: H.H

Từ lá dứa bỏ đi đến nguyên liệu cho ngành dệt may

Từ những chiếc lá dứa vốn ít được khai thác sau thu hoạch, startup Ecofa Việt Nam đang phát triển dòng xơ, sợi dứa phục vụ ngành dệt may. Sản phẩm là kết quả của hơn 3 năm nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện quy trình sản xuất, hướng tới biến phụ phẩm nông nghiệp thành nguyên liệu có giá trị cao hơn.

Để có nguồn nguyên liệu ổn định, Ecofa Việt Nam hợp tác với nông dân và các hợp tác xã tại Điện Biên, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Tiền Giang thu gom, khai thác lá dứa sau thu hoạch. Thay vì trở thành phần phụ bỏ đi, những chiếc lá này được đưa vào quy trình xử lý để tách lấy xơ, sau đó tiếp tục được chế biến thành nguyên liệu phục vụ kéo sợi và dệt vải.

Nhà sáng lập Ecofa Việt Nam, kỹ sư Đậu Văn Nam đã chia sẻ việc sử dụng lá dứa để tạo sợi không phải là ý tưởng mới. Từ lâu, một số nơi đã khai thác xơ dứa theo phương thức truyền thống. Tuy nhiên, cách làm thủ công chủ yếu có quy mô nhỏ, sản lượng thấp và khó kiểm soát đồng đều về chất lượng.

Đây cũng là hướng mà Ecofa Việt Nam tập trung trong quá trình nghiên cứu. Thay vì dừng ở sản phẩm xơ thủ công, doanh nghiệp hướng tới hoàn thiện nguyên liệu đầu vào theo yêu cầu của ngành công nghiệp sợi, qua đó mở rộng khả năng ứng dụng của xơ dứa.

Từ tơ dứa sau xử lý, nguyên liệu có thể tiếp tục được đưa vào công đoạn kéo sợi, dệt vải, mở ra hướng phát triển các sản phẩm dệt may có nguồn gốc từ nguyên liệu thực vật và phụ phẩm nông nghiệp.

Với cách tiếp cận này, giá trị của cây dứa không chỉ nằm ở quả. Sau thu hoạch, phần lá cũng có thể trở thành nguồn nguyên liệu mới nếu được thu gom, xử lý và chuẩn hóa đúng cách. Mô hình của Ecofa Việt Nam vì thế đặt mục tiêu kết nối đồng thời hai đầu của chuỗi: vùng nguyên liệu của nông dân và nhu cầu nguyên liệu của ngành dệt may.

Không chỉ lá dứa, từ một loại phụ phẩm thường bị đốt bỏ sau mỗi vụ lúa, rơm rạ đang được một số hợp tác xã, trang trại tại Thừa Thiên - Huế, Cần Thơ, Bắc Giang… khai thác theo hướng hàng hóa. Một số hợp tác xã đã đầu tư máy cuốn rơm, tổ chức thu gom ngay tại đồng ruộng không chỉ giúp nông dân có thêm khoản thu mà còn mở ra nguồn nguyên liệu cho sản xuất nông nghiệp. Thay vì để rơm phân hủy hoặc đốt bỏ, một số hợp tác xã tổ chức thu mua ngay tại ruộng, với mức giá tạm thời khoảng vài chục nghìn đồng/sào, sau đó cuộn và đưa rơm vào các mục đích sử dụng khác nhau.

Rơm sau khi thu gom được bán lại, phục vụ nhiều nhu cầu như bón cho cây trồng hữu cơ, làm nguyên liệu trồng nấm, trồng hoa và làm thức ăn cho trâu, bò.

Điểm đáng chú ý của mô hình không nằm ở giá trị của từng cuộn rơm, mà ở việc hình thành cách làm đối với phụ phẩm sau thu hoạch. Khi rơm được thu gom, phân loại và đưa vào sản xuất, thứ vốn được xem là phế phẩm trở thành nguyên liệu có giá trị, đồng thời giảm lượng rơm bị đốt trực tiếp trên đồng ruộng.

Trong ngành lúa gạo, một số mô hình kinh tế tuần hoàn tiêu biểu có thể kể đến như: mô hình sản xuất lúa - cá - vịt ở Đồng bằng sông Cửu Long giúp tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi, đồng thời kiểm soát sâu bệnh bằng biện pháp sinh học. Bên cạnh đó, một số hợp tác xã tại Thái Bình, An Giang, Đồng Tháp cũng đã ứng dụng canh tác hữu cơ, sử dụng chế phẩm vi sinh và tái tạo phụ phẩm sau thu hoạch, từng bước hướng đến các tiêu chuẩn gạo sạch, gạo hữu cơ.

Những mô hình từ lá dứa, cuộn rơm… đã minh chứng rằng khoa học công nghệ, khi gắn với thực tiễn sản xuất, có thể tạo ra giá trị lớn. Tận dụng tốt nguồn phụ phẩm không chỉ giúp giảm ô nhiễm môi trường, mà còn mở rộng chuỗi giá trị nông sản, tạo sinh kế mới cho nông dân, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Đây là chìa khóa quan trọng để nông nghiệp Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu xanh, tuần hoàn.

Khái niệm nông nghiệp tuần hoàn đang dần trở nên phổ quát, là hệ thống sản xuất nông nghiệp theo hướng khép kín, trong đó các tài nguyên và phụ phẩm của hoạt động sản xuất kinh doanh được tái sử dụng, tái chế hoặc chuyển hoá để tạo ra các sản phẩm mới. Việc ứng dụng nông nghiệp tuần hoàn không những giúp quá trình sản xuất hợp lý, hiệu quả hơn, sử dụng tài nguyên hợp lý mà còn góp phần tối ưu hoá các quá trình sản xuất, từ đó giảm thiểu lãng phí và tác động tiêu cực đến môi trường.

Nông nghiệp tuần hoàn tập trung vào việc thúc đẩy tính tuần hoàn của tài nguyên trong chuỗi giá trị nông sản thực phẩm, giảm thiểu đầu vào bên ngoài, giảm nhu cầu về tài nguyên, tái tạo hệ sinh thái sinh học và giảm tác động đến môi trường để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng và cải thiện sinh kế của người sản xuất. Nông nghiệp tuần hoàn khác với nông nghiệp thông thường về các nguyên tắc, mức độ tuần hoàn, tiêu chí đánh giá và cách thức thực hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Cần đặt khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm

Ông Nguyễn Trí Ngọc - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã nói, khái niệm kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp không còn mới mẻ mà đã được đề cập và thực hiện từ hơn một thập kỷ qua. Tuy nhiên, sự chuyển biến về nhận thức và hành động mới thực sự rõ nét trong những năm gần đây.

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu, tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét và yêu cầu phát triển bền vững đặt ra cao hơn, việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn vào nông nghiệp không chỉ là một lựa chọn mà đã trở thành nhu cầu thiết yếu. Tuy nhiên, để mô hình này thực sự phát huy hiệu quả và lan tỏa rộng, ông Ngọc cho rằng cần đặt khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm. “Chuyển đổi tích cực phải là chuyển đổi mô hình kinh tế nông nghiệp. Mà muốn làm được điều đó thì vai trò của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là rất quan trọng”, ông nói.

Một tín hiệu tích cực được ông nhắc đến là Quyết định số 540/QĐ-TTg ngày 19/6/2024 do Thủ tướng Chính phủ ban hành, phê duyệt Đề án phát triển khoa học và ứng dụng, chuyển giao công nghệ thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp đến năm 2030. Theo ông, đây là một chính sách kịp thời, phản ánh đúng yêu cầu của thực tiễn.

Tuy vậy, ông Ngọc cũng cho rằng vẫn còn một số khó khăn nhất định trong việc thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, đặc biệt là ở khía cạnh chính sách. Một số quy định pháp luật liên quan hiện vẫn mang tính khái quát, cần được rà soát và điều chỉnh để phù hợp hơn với đặc thù của mô hình sản xuất tuần hoàn. Ngoài ra, cách tiếp cận trong quản lý vẫn chủ yếu dựa trên tư duy sản xuất tuyến tính, trong khi các mô hình mới lại đòi hỏi sự linh hoạt và tính mở cao hơn. Những khoảng trống này phần nào ảnh hưởng đến khả năng thử nghiệm, triển khai các giải pháp đổi mới sáng tạo trong thực tiễn.

Ông cho rằng để xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật cho kinh tế tuần hoàn, trước hết phải xuất phát từ thực tiễn sản xuất. “Muốn ra được tiêu chí, tiêu chuẩn hay quy chuẩn thì phải có mô hình thực tế. Nhưng hiện nay nhiều mô hình mới chỉ đang làm dở dang, chưa đủ điều kiện để xây dựng tiêu chuẩn”, ông nói.

Trên cơ sở đó, ông đề xuất cho phép địa phương được tiếp cận khoa học công nghệ theo hướng linh hoạt, tạo điều kiện xây dựng mô hình thử nghiệm. Thông qua các mô hình này, địa phương có thể đề xuất và hoàn thiện bộ tiêu chí kỹ thuật, từ đó làm cơ sở cho việc nhân rộng và chuẩn hóa sau này.

Bên cạnh vấn đề về chính sách và thể chế, ông Ngọc cũng đặc biệt nhấn mạnh khó khăn về tài chính. Phần lớn doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ nông dân. Việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là tài chính xanh, là thách thức rất lớn. Trong khi đó, đầu tư cho sản xuất tuần hoàn bao gồm cả xử lý phụ phẩm, tái chế, phát triển sản phẩm sinh học lại đòi hỏi nguồn lực đáng kể và dài hạn. Vì vậy, theo ông, rất cần có các chính sách tín dụng đặc thù để hỗ trợ nhóm doanh nghiệp này nếu muốn thúc đẩy kinh tế tuần hoàn một cách thực chất.

Theo ông Ngọc, việc thúc đẩy mô hình tuần hoàn cần được xem là một quá trình chuyển đổi tư duy lâu dài, trong đó chính sách, công nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ có thể phát huy nếu gắn chặt với thực tiễn đời sống sản xuất.

Bà Lữ Thị Nhật Hằng - Giám đốc Hợp tác xã Ngũ Thường Mekong:

Nguồn phụ phẩm nông nghiệp khổng lồ và đa dạng tạo nên nguồn nguyên liệu sinh khối giàu có với sản lượng lúa hằng năm lớn, phát sinh hàng trăm nghìn tấn rơm rạ và vỏ trấu. Bên cạnh đó là lượng lớn phụ phẩm từ cây trái như chanh không hạt, bưởi, mãng cầu cùng phân bón từ chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản. Đây là nguồn tài nguyên đầu vào với chi phí thấp nhưng tiềm năng kinh tế cao cho sản xuất phân bón hữu cơ và năng lượng sinh học đối với kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.

Hồ Hương

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/nang-tam-nong-nghiep-sinh-thai-khi-rom-ra-la-dua-tro-thanh-tien.html