Nét đẹp nhân văn trong lễ Sú khon khoài của người Lự
Sú khon khoài - nghi lễ cúng hồn trâu độc đáo của người Lự tại xã Khun Há (tỉnh Lai Châu) diễn ra sau mỗi mùa vụ, nơi con người cất lời tạ ơn, tạ lỗi và gửi gắm ước vọng hòa hợp với thiên nhiên, vạn vật.
Theo nhiều nguồn sử liệu và dân gian truyền lại, người Lự vốn có nguồn gốc từ Xíp Xoong Păn Na (Vân Nam, Trung Quốc) và di cư vào Việt Nam khoảng thế kỷ XII.
Họ thuộc nhóm cư dân có mặt sớm nhất tại thung lũng Mường Thanh (tỉnh Điện Biên ngày nay), để lại nhiều dấu ấn chứng tích như thành Tam Vạn (Xam Mứn) hay ruộng Nà Lự.

Thầy cúng dẫn đầu đoàn rước trâu từ rừng về nơi làm lễ
Đến khoảng đầu thế kỷ XIII, khi thủ lĩnh Lạng Chượng đem quân từ Mường Lò tiến vào chiếm Mường Thanh, người Lự bị đẩy vào thế phụ thuộc, tiếp tục thiên di về phía nam sang Lào.
Tài liệu ghi chép của người Lự cho thấy, họ tìm đến Phong Thổ và Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu) tương đối muộn, cách ngày nay khoảng 6 đến 7 đời (thế kỷ XVIII), sinh sống tập trung tại hai bản Pặu và Phiêng Chá.
Theo thông tin từ UBND tỉnh Lai Châu, năm 2020, ghi nhận toàn tỉnh có 1.378 hộ với 6.733 người Lự (chiếm 1,49% dân số toàn tỉnh), phân bố tập trung ở hai huyện Tam Đường và Sìn Hồ (trước sáp nhập).

Trâu được dắt vào chuồng làm lễ

Tại Tam Đường, đồng bào sống chủ yếu ở xã Bản Hon (nay là xã Khun Há) - nơi các giá trị văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ nguyên bản.
Dù từng có chữ viết cổ nhưng nay hầu như không còn ai biết chữ để trao truyền cho thế hệ sau, người Lự vẫn giữ trọn tiếng nói riêng để giao tiếp nội bộ, đồng thời học thêm tiếng Việt, tiếng Thái, tiếng Lào và tiếng Mông để kết nối cộng đồng.
Trong kho tàng văn hóa ấy, lễ Sú khon khoài của người Lự tại xã Khun Há, một nghi lễ nông nghiệp đặc sắc, chính là sự kiện tâm linh mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Khu vực chuồng làm lễ

Người Lự quan niệm vạn vật đều có linh hồn do lực lượng siêu nhiên vô hình quản lý và linh hồn trâu luôn hiện hữu khắp nơi để can thiệp vào tự nhiên.
Do đó, sau khi kết thúc việc cày cấy và thu hoạch xong mùa màng, cả bản họp mặt bàn bạc thống nhất tổ chức lễ Sú khon khoài để tạ ơn con vật đã nỗ lực giúp gia chủ mang lại vụ mùa bội thu, đồng thời cầu xin thần linh, tổ tiên trợ giúp cho con người khỏe mạnh, gia súc sinh sôi, mưa thuận gió hòa. Thầy cúng sẽ xem ngày lành tháng tốt để đứng ra chủ trì.
Trước đây, khi dân bản còn nhiều trâu, họ khoanh một khu đồi cỏ rộng trên rừng gọi là Sàng khoài (bãi trâu) để thả chung.

Mâm lễ cúng hồn trâu
Đến ngày hẹn, các chủ trâu lên Sàng khoài rước trâu về khu vực làm lễ. Đi đầu đoàn rước là các thầy cúng cùng thanh niên khỏe mạnh mang lễ vật, tiếp theo là chủ trâu và những chú trâu đã vất vả suốt năm.
Phía sau là đoàn nhạc lễ khua trống, đánh chiêng rộn rã báo hiệu cho khắp xã bản, cùng đội rước gồm các chàng trai, cô gái múa dẻo hát hay nhất bản.
Các cô gái thể hiện điệu xòe truyền thống đón trâu, còn các chàng trai cầm bó cỏ non xanh mướt và bát nước bồ kết thơm phức để chỉ đường cho hồn trâu không bị lạc lối.

Thầy cúng nắm một nắm cơm nếp thật chặt chấm lên đầu trâu

Khi về tới nơi, trâu được đưa vào chuồng cúng. Đoàn nhạc lễ và đội rước đứng ngay ngắn phía trước để thầy cúng bắt đầu thực hiện thủ tục cúng tháo vai trâu.
Theo quan niệm “con trâu là đầu cơ nghiệp”, người Lự hiểu rằng vì áp lực mùa vụ, con người đôi khi đối xử không tốt, đánh mắng trâu. Vì vậy, lễ tháo vai là lời xin phép thần linh cho trâu được cởi ách nghỉ ngơi, phục hồi sức lực.
Vật tế dâng lên thần linh là một con gà trống sống. Thầy cúng cầm gà và bộ vai trâu, vừa cúng vừa nhấc vai qua lưng trâu như hành động tháo vai mỗi khi đi làm về, cất lời tâm tình: “Trâu ơi, quanh năm suốt tháng trâu đã vất vả, đồng hành lặn, lội, giúp ta cày bừa ruộng đất, sản xuất mùa màng; việc cày bừa, làm đất, gieo cấy đã xong.

Thầy cúng rót chén rượu lên đầu trâu, mong hồn trâu cứng cáp

Thầy cúng dùng cây gai nhúng vào bát nước bồ kết vẩy khắp người trâu nhằm gột rửa mọi mệt nhọc, khổ cực và bệnh tật
Đến nay, ngày mùa đã ổn thỏa, gia chủ tiến hành tháo bộ vai cho trâu để cất đi phục vụ cho mùa vụ tiếp theo, chúc cho trâu luôn luôn mạnh khỏe, đồng hành cùng gia chủ.
Hôm nay ngày lành tháng tốt, ngày tháo bộ vai cho trâu, dân ta là chủ, ta muốn tạ ơn trâu đã đồng hành giúp ta trong mùa vụ vừa qua, hôm nay tổ chức cúng hồn cho trâu, nhà chỉ có đôi gà trống, mái để cúng hồn cho trâu, cầu mong cho trâu luôn luôn được mạnh khỏe, trâu đừng buồn nhé".
Ngay sau lễ tháo vai, thầy cúng tiến hành lễ cúng hồn trâu với mâm lễ gồm xôi, gà, chỉ trắng, cỏ non, nước sạch, cơm, gạo, thóc, muối, nước bồ kết, rượu và sáp ong.

Thầy cúng mời các chủ trâu trở về bàn lễ chính để làm lễ cúng hồn trâu
Thầy cúng nắm một nắm cơm nếp thật chặt chấm lên đầu trâu để thông báo đã hoàn thành lễ tháo bộ vai, rồi rót hai chén rượu lên đầu trâu mong hồn trâu cứng cáp.
Tiếp đến, chỉ trắng được buộc vào hai sừng trâu để giữ chặt hồn, tránh cho trâu bị ốm đau. Trâu được dâng cơm, muối, cỏ non và nước sạch để mong trâu luôn béo khỏe.
Đặc biệt, thầy cúng lấy sáp ong và hoa tươi dán vào sừng trâu rồi thành kính khấn nguyện: "Dân ta là chủ, trong quá trình đồng hành cùng nhau, nhiều khi ta đã có những lời chửi mắng, đánh đập; giờ không có gì bù đắp, tạ ơn trâu; ta chỉ có đôi nến sáp ong, đôi gà để vái lạy trâu, trâu đừng thù hận, căm ghét ta nhé; hồn trâu thì hãy đi với trâu, hồn chủ về với chủ nhé".

Thầy cúng buộc chỉ cổ tay cho chủ trâu nhằm giữ chặt hồn, cầu chúc sức khỏe

Sau đó, thầy cúng dùng cây gai nhúng vào bát nước bồ kết vẩy khắp người trâu nhằm gột rửa mọi mệt nhọc, khổ cực và bệnh tật trong năm qua, rồi dâng mâm lễ tạ ơn thần linh phù hộ cho "hồn trâu về với trâu, hồn người về với người".
Khép lại phần cúng trâu, thầy cúng mời các chủ trâu trở về bàn lễ chính để làm lễ cúng hồn trâu. Thầy cúng và các gia chủ ngồi quanh bàn, cùng đặt ngón tay lên bàn lễ để xin thần linh cho trâu trả lại hồn cho chủ.
Bài cúng cất lên: "Nay trâu đã được tháo vai để nghỉ ngơi, gia chủ hãy thôi nghĩ về những công việc cũ, những mắng chửi cũ đối với trâu để trâu trả lại hồn cho chủ".
Cúng xong, thầy cúng chấm nắm xôi vào lòng bàn tay gia chủ để thông báo trâu đã đồng ý trả hồn, rồi buộc chỉ cổ tay cho từng người nhằm giữ chặt hồn, cầu chúc sức khỏe.

Người Lự quan niệm vạn vật đều có linh hồn và linh hồn trâu luôn hiện hữu khắp nơi để can thiệp vào tự nhiên

Khi nghi lễ hoàn tất, cả bản cùng nhau ăn uống vui vẻ. Đến ngày hôm sau, trâu lại được thả lên Sàng khoài tự do sinh sống cho tới khi lúa chín. Khi chuẩn bị vào mùa vụ mới, gia đình mới đón trâu về chăm sóc.
Lễ Sú khon khoài khép lại bằng các trò chơi dân gian rộn ràng cho trai bản trên, gái bản dưới cùng tham gia.
Người Lự tin rằng lễ cúng càng đông người tham dự, không khí càng vui vẻ thì may mắn đến với bản làng sẽ càng nhiều.

