Ngân hàng mở rộng vốn quốc tế tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thực tế cho thấy, huy động vốn quốc tế đang trở thành một kênh bổ sung nguồn lực đáng kể cho các ngân hàng Việt Nam. Dòng vốn này được mở rộng khá mạnh trong năm 2025 và đặc biệt rõ nét trong năm 2026, với nhiều khoản vay gắn với các mục tiêu phát triển bền vững, tín dụng xanh, xã hội và hỗ trợ DNNVV.
Vốn ngoại mở thêm dư địa cho vay DNNVV
Áp lực nguồn vốn đối với hệ thống ngân hàng đang ngày càng hiện hữu khi tốc độ tăng tín dụng tiếp tục cao hơn tốc độ huy động. Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Bộ Tài chính, đến ngày 22/8/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế tăng 9,71% so với cuối năm 2025, trong khi huy động vốn tăng 7,97%. Chênh lệch tốc độ tăng giữa tín dụng và huy động lên tới 1,74 điểm phần trăm, tương ứng quy mô có thể trên 2 triệu tỷ đồng.

Vốn ngoại mở thêm dư địa cho vay DNNVV
Khoảng cách này cho thấy một bài toán ngày càng rõ nét, nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng nhanh nhưng khả năng bổ sung nguồn lực từ tiền gửi trong nước chưa hoàn toàn theo kịp. Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng. Với yêu cầu tăng trưởng cao trong những năm tới, nhu cầu huy động vốn của hệ thống tổ chức tín dụng sẽ còn rất lớn. Vấn đề không chỉ nằm ở quy mô nguồn vốn mà còn ở cấu trúc kỳ hạn. Nhiều dự án đầu tư, nhu cầu mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh hay đầu tư máy móc của doanh nghiệp cần nguồn vốn trung và dài hạn. Trong khi đó, 80-90% nguồn vốn huy động của các ngân hàng hiện nay là ngắn hạn. Ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc FiinGroup phân tích áp lực tăng trưởng lớn, chênh lệch huy động - tín dụng cao và những vấn đề về cấu trúc nội tại của ngành Ngân hàng như hệ số an toàn chưa cao, bộ đệm vốn mỏng… đang là những thách thức lớn. Theo ông, trong bối cảnh đó, việc các ngân hàng huy động được vốn từ nguồn mới sẽ rất tốt cho hệ thống.
Đặc biệt, việc huy động được thêm nhiều nguồn vốn dài hạn cũng sẽ là lực đẩy quan trọng để ngân hàng gia tăng nguồn lực cho vay DNNVV – lực lượng quan trọng của nền kinh tế. Vốn quốc tế đang là một trong những mục tiêu được nhiều nhà băng Việt hướng tới. Thực tế cho thấy, huy động vốn quốc tế đang trở thành một kênh bổ sung nguồn lực đáng kể cho các ngân hàng Việt Nam. Dòng vốn này được mở rộng khá mạnh trong năm 2025 và đặc biệt rõ nét trong năm 2026, với nhiều khoản vay gắn với các mục tiêu phát triển bền vững, tín dụng xanh, xã hội và hỗ trợ DNNVV.
Một trong những thương vụ đáng chú ý gần đây là khoản huy động vốn của HDBank với sự tham gia của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Standard Chartered Bank (Singapore) Limited. Với vai trò chủ trì thu xếp vốn và điều phối cùng Standard Chartered, ADB đã tập hợp 29 ngân hàng thương mại để huy động thêm 621 triệu USD cho HDBank. Đáng chú ý, nguồn vốn này gắn trực tiếp với mục tiêu mở rộng khả năng tiếp cận tài chính cho DNNVV. Ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam cho rằng, tăng cường khả năng tiếp cận tài chính cho DNNVV, đặc biệt là các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng bao trùm và bền vững tại Việt Nam. Sự hợp tác giữa ADB và HDBank sẽ góp phần đưa nguồn vốn tới những doanh nghiệp chưa được tiếp cận tài chính đầy đủ, tạo điều kiện để các doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các cơ hội kinh tế. Khoản tài trợ sẽ hỗ trợ hoạt động cho vay trung và dài hạn của HDBank, trong đó ít nhất 40% nguồn vốn của ADB được dành cho các DNNVV do phụ nữ làm chủ. Nguồn vốn được cho vay lại đối với các DNNVV đủ điều kiện theo khuôn khổ tài chính bền vững của HDBank.
Đây cũng là một phần trong chuỗi huy động vốn quốc tế của HDBank thời gian gần đây. Cuối tháng 7/2026, ngân hàng huy động khoản vay hợp vốn xã hội trị giá 721 triệu USD do ADB và Standard Chartered đồng thu xếp, vượt 60% so với mục tiêu ban đầu và được xem là khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước đến nay tại Việt Nam. Không riêng HDBank, việc mở rộng huy động vốn quốc tế đang diễn ra tại nhiều ngân hàng, qua đó bổ sung thêm nguồn lực cho các mục tiêu tín dụng xanh và phát triển bền vững.
Cuối tháng 6/2026, VPBank ký khoản vay hợp vốn liên kết bền vững trị giá 1,44 tỷ USD với sự tham gia của 15 định chế tài chính quốc tế, cao hơn mức dự kiến thu xếp ban đầu là 1,2 tỷ USD. Khoản vay tập trung vào mở rộng tín dụng cho lĩnh vực xanh và xã hội
Lợi thế đáng chú ý của các khoản vay hợp vốn quốc tế nằm ở kỳ hạn. Các khoản vay này thường có thời hạn từ 3-7 năm, thậm chí dài hơn, qua đó góp phần cải thiện cơ cấu nguồn vốn và hỗ trợ các ngân hàng tài trợ những nhu cầu vốn dài hạn cho hạ tầng, năng lượng, xuất khẩu hay chuyển đổi xanh. Trong khi đó, nguồn vốn huy động trong nước vẫn chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn.
Đối với DNNVV, ý nghĩa của nguồn vốn dài hạn càng rõ rệt. Thay vì chỉ đáp ứng nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn, một nguồn vốn ổn định hơn tạo điều kiện để ngân hàng xây dựng các chương trình tài trợ phục vụ đầu tư máy móc, mở rộng nhà xưởng, đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng, chuyển đổi xanh hay nâng cao năng lực xuất khẩu - những nhu cầu thường có thời gian thu hồi vốn dài. Bà Nguyễn Thúy Hạnh, Tổng giám đốc kiêm Giám đốc Khối Khách hàng Doanh nghiệp và Đầu tư Standard Chartered Việt Nam cho rằng, việc huy động thành công nguồn vốn từ các định chế tài chính quốc tế sẽ góp phần mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa cũng như doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Theo ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank, việc đa dạng hóa nguồn vốn quốc tế giúp ngân hàng giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn trong nước. Bên cạnh đó, quy trình thẩm định của các định chế phát triển quốc tế cũng là một thước đo độc lập về năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro của ngân hàng.
Vốn quốc tế và bài toán sử dụng hiệu quả nguồn lực dài hạn
Nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế được dự báo tiếp tục gia tăng mạnh trong những năm tới. Giai đoạn 2026-2030, tổng nhu cầu vốn của nền kinh tế được ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, xấp xỉ gấp đôi giai đoạn 2021-2025. Trong khi tín dụng ngân hàng vẫn là một trong những kênh dẫn vốn chủ lực, áp lực nguồn lực đối với các tổ chức tín dụng sẽ ngày càng lớn.
Tổng Giám đốc Techcombank Jens Lottner cho rằng, để đạt quỹ đạo tăng trưởng kỳ vọng, Việt Nam cần huy động nguồn vốn lớn hơn nhiều so với hiện tại. Theo ông, nguồn vốn USD hiện vẫn có chi phí cạnh tranh, trong khi thị trường quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực triển vọng của Việt Nam.
Tuy nhiên, vốn quốc tế không đồng nghĩa với nguồn vốn giá rẻ. Theo chia sẻ của lãnh đạo các ngân hàng thương mại, nếu tính đầy đủ chi phí, mức vốn hiện dao động quanh 8-9%/năm, tương đương với lãi suất huy động trong nước áp dụng cho kỳ hạn dài. Vì vậy, lợi thế quan trọng của vốn quốc tế nằm nhiều hơn ở quy mô và kỳ hạn.
Để những nguồn vốn này thực sự tạo thêm dư địa cho DNNVV, theo chuyên gia trước hết cần tăng khả năng chuyển hóa vốn huy động quốc tế thành các chương trình tín dụng phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Các khoản tài trợ đã được ký kết cho thấy việc xác định rõ đối tượng sử dụng vốn, như DNNVV, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, tín dụng xanh hay các dự án xã hội, có thể giúp dòng vốn tập trung hơn vào những khu vực đang cần nguồn lực.
Cùng với đó, các ngân hàng cần tiếp tục nâng cao năng lực đánh giá khách hàng DNNVV. Nhiều doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi nhưng quy mô tài sản còn nhỏ, khả năng đáp ứng yêu cầu về tài sản bảo đảm hạn chế. Việc tăng cường khai thác dữ liệu về dòng tiền, giao dịch, hóa đơn và hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ hỗ trợ các tổ chức tín dụng có thêm cơ sở đánh giá năng lực trả nợ của doanh nghiệp, qua đó mở rộng phạm vi khách hàng có khả năng tiếp cận vốn.
Quá trình huy động vốn quốc tế cũng tạo thêm động lực để chính các ngân hàng nâng chuẩn hoạt động. Để tiếp cận nguồn vốn từ ADB, IFC, JICA hay các tổ chức tài chính lớn khác, ngân hàng phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao về quản trị, minh bạch thông tin, kiểm soát rủi ro cũng như các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội. TS. Châu Đình Linh, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng việc thu hút được các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có tiềm lực sẽ giúp các ngân hàng Việt Nam gia tăng nội lực trong dài hạn, bổ sung và ổn định nguồn vốn kinh doanh, qua đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của khách hàng. Sự tham gia của nhà đầu tư ngoại còn đem lại kinh nghiệm quản trị và góp phần định hình mô hình kinh doanh hiện đại hơn cho ngân hàng.
Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Quốc Hùng, Nguyên Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đánh giá, sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài thời gian qua đã mang lại những thay đổi tích cực về tài chính, công nghệ và quản trị, giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam từng bước tiệm cận thông lệ quốc tế. Theo ông, việc tạo thêm điều kiện để các ngân hàng gọi vốn sẽ góp phần nâng cao năng lực tài chính và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
Một vấn đề khác cần đặc biệt quan tâm là rủi ro tỷ giá. Nguồn vốn quốc tế chủ yếu được huy động bằng USD, trong khi phần lớn hoạt động cho vay trong nước bằng VND. Biến động tỷ giá có thể làm gia tăng chi phí phòng ngừa rủi ro và ảnh hưởng đến hiệu quả của nguồn vốn. Do đó, mở rộng huy động vốn nước ngoài phải gắn với năng lực quản trị tài sản - nguồn vốn và quản trị rủi ro tỷ giá của từng tổ chức tín dụng.
Về dài hạn, vốn quốc tế cũng không thể thay thế nguồn lực trong nước. Việc các ngân hàng gia tăng huy động từ nước ngoài cần được đặt trong tổng thể quá trình đa dạng hóa các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, đồng thời phát triển mạnh hơn thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và các nguồn vốn dài hạn khác để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.



