Ngành Du lịch thời kỳ mới: Không chỉ tăng khách mà phải tăng giá trị
Du lịch Việt Nam đang bước vào một giai đoạn không còn phù hợp với cách tăng trưởng dựa chủ yếu vào số lượng khách. Khi thị trường ngày càng cạnh tranh, nhu cầu du khách thay đổi nhanh và công nghệ len sâu vào mọi khâu của hành trình, bài toán đặt ra với ngành du lịch không chỉ là đón thêm bao nhiêu triệu lượt khách mà quan trọng hơn là mỗi du khách tạo ra bao nhiêu giá trị và bao nhiêu giá trị được giữ lại trong nền kinh tế. Đây cũng là điểm giao giữa chuyển đổi số và yêu cầu nâng chất lượng tăng trưởng của ngành du lịch.

Du lịch Việt Nam đang có cơ hội bước sang mô hình tăng trưởng mới. (Hình ảnh minh họa được tạo bởi AI)
Theo ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có mức độ xã hội hóa cao nên chuyển đổi số phải tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị. Từ quản lý nhà nước, phát triển sản phẩm, xúc tiến thị trường, tổ chức hành trình, cung cấp dịch vụ đến đo lường hiệu quả và quản trị điểm đến, tất cả đều cần được đặt trong một hệ sinh thái số thống nhất.
Như vậy, chuyển đổi số của du lịch không thể hiểu đơn giản là xây dựng thêm một ứng dụng, một website hay đưa các điểm đến lên bản đồ số. Nếu chỉ dừng ở đó, công nghệ mới thay đổi cách cung cấp thông tin chứ chưa thay đổi phương thức vận hành của ngành.
Điều đáng lưu ý là kinh tế số nói chung và du lịch số nói riêng đang đứng trước một nghịch lý đó là quy mô có thể tăng rất nhanh nhưng giá trị giữ lại trong nền kinh tế chưa chắc tăng tương ứng.
GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế số. Tuy nhiên, khi đánh giá đóng góp của kinh tế số vào GDP, không nên chỉ nhìn vào quy mô hay tốc độ tăng trưởng. Điều quan trọng hơn là phải xem trong tổng giá trị mà kinh tế số tạo ra, bao nhiêu giá trị thực sự được giữ lại trong nền kinh tế và thuộc về doanh nghiệp Việt Nam.
Một du khách có thể đặt phòng qua nền tảng nước ngoài, mua vé qua một hệ thống quốc tế, sử dụng các dịch vụ thanh toán xuyên biên giới và tìm kiếm thông tin thông qua những nền tảng công nghệ toàn cầu. Điểm đến Việt Nam vẫn đón khách, doanh nghiệp Việt Nam vẫn có doanh thu, nhưng một phần giá trị của cả chuỗi có thể được chuyển ra ngoài dưới dạng phí nền tảng, quảng cáo, công nghệ và các dịch vụ trung gian.
Vì thế, mục tiêu của chuyển đổi số không nên chỉ là số hóa ngành du lịch, mà phải tiến tới xây dựng năng lực để doanh nghiệp Việt Nam làm chủ dữ liệu, làm chủ nền tảng ở những khâu phù hợp và quan trọng nhất là nâng tỷ lệ giá trị gia tăng giữ lại trong nước. Đây mới là thước đo của một nền kinh tế du lịch phát triển theo chiều sâu.
Trong mô hình du lịch truyền thống, doanh nghiệp thường tập trung vào việc bán sản phẩm như tour, phòng khách sạn, vé máy bay hay một điểm tham quan. Nhưng du khách hiện đại không mua từng dịch vụ riêng lẻ. Họ mua cả một trải nghiệm.
Hành trình đó bắt đầu từ lúc tìm kiếm thông tin, lựa chọn điểm đến, đặt vé, đặt phòng, di chuyển, ăn uống, tham quan, mua sắm và tiếp tục sau chuyến đi bằng việc chia sẻ, đánh giá trên môi trường số.
Nếu mỗi khâu vận hành bằng một hệ thống dữ liệu riêng, thiếu kết nối, ngành du lịch sẽ rất khó hiểu đầy đủ hành vi của du khách. Ngược lại, nếu dữ liệu được liên thông hợp lý, cơ quan quản lý có thể nhìn thấy dòng khách; doanh nghiệp hiểu nhu cầu; điểm đến chủ động điều tiết lượng khách; còn du khách có một hành trình thuận tiện hơn. Chính vì vậy, chuyển đổi số phải tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị của ngành, ông Nguyễn Trùng Khánh cho biết thêm.
Công nghệ là phương tiện, dữ liệu là nguồn lực nhưng hiệu quả kinh tế, sự hài lòng của du khách, lợi ích của cộng đồng và tính bền vững của điểm đến mới là thước đo cuối cùng.
Muốn du lịch tăng trưởng trong thời kỳ mới, trước hết phải giải bài toán của doanh nghiệp. Chuyển đổi số phải giúp doanh nghiệp giảm chi phí marketing, quản trị nhân sự, bán hàng và chăm sóc khách hàng; đồng thời tiếp cận đúng thị trường, cá nhân hóa sản phẩm và nâng khả năng bán chéo dịch vụ.
Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa - lực lượng chiếm tỷ trọng lớn trong hệ sinh thái du lịch không thể bị bỏ lại phía sau bởi những yêu cầu công nghệ quá đắt đỏ hoặc phức tạp. Thay vì mỗi doanh nghiệp tự xây dựng một hệ thống riêng, cần phát triển các nền tảng dùng chung, tiêu chuẩn dữ liệu chung và các giải pháp số có chi phí phù hợp. Nhà nước nên đóng vai trò kiến tạo hạ tầng dữ liệu và chuẩn hóa, còn doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp tạo ra sản phẩm và giá trị.
Cùng với đó, cần hình thành cơ chế khai thác dữ liệu du lịch minh bạch, an toàn và có trách nhiệm. Dữ liệu du khách càng trở nên có giá trị thì yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và quyền riêng tư càng phải được đặt lên hàng đầu.
Trong thời kỳ mới, ngành du lịch cần một bộ tiêu chí đánh giá khác. Lượng khách vẫn quan trọng, nhưng chưa đủ. Cần nhìn đồng thời vào mức chi tiêu, thời gian lưu trú, tỷ lệ khách quay lại, mức độ hài lòng, năng suất lao động, tỷ lệ giá trị giữ lại trong nước và tác động tới cộng đồng, môi trường. Đó cũng là cách chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng thực chất thay vì một phong trào công nghệ.
Cơ quan quản lý phải ra quyết định nhanh hơn nhờ dữ liệu. Doanh nghiệp phải vận hành hiệu quả hơn nhờ công nghệ. Du khách phải có trải nghiệm thuận tiện hơn. Người dân tại điểm đến phải được hưởng lợi nhiều hơn. Và tài nguyên du lịch phải được bảo vệ tốt hơn. Nếu những mục tiêu này cùng được cải thiện, chuyển đổi số mới thực sự có ý nghĩa.
Du lịch Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để bước sang một mô hình tăng trưởng mới. Nhưng cơ hội chỉ trở thành kết quả khi ngành không chạy theo cuộc đua về số lượng đơn thuần, mà chuyển trọng tâm sang năng suất, giá trị gia tăng, trải nghiệm và tính bền vững.
