Ngành gỗ: Khai thác tiềm năng cho mục tiêu phát triển xanh
Giới chuyên gia nhận định, ngành gỗ Việt rất giàu tiềm năng về phát triển vật liệu gỗ kỹ thuật. Lĩnh vực này không chỉ mở ra cơ hội nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm mà còn giúp ngành gỗ Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Ngành gỗ rất giàu tiềm năng khai thác và phát triển vật liệu gỗ kỹ thuật. Ảnh: Đỗ Hương
Giàu tiềm năng phát triển vật liệu gỗ kỹ thuật
Theo Hiệp hội Gỗ và thủ công mỹ nghệ Đồng Nai (DOWA), ngành gỗ Việt Nam đã có bước phát triển đầy ấn tượng trong hơn 20 năm qua. Từ mức kim ngạch xuất khẩu chưa tới 1 tỷ USD năm 2003, đến năm 2025, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đã đạt 16,7 tỷ USD. Thành tựu này không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần mở rộng diện tích rừng trồng.
Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ ấy, biên độ lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong những năm gần đây đang dần thu hẹp. Trong khi đó, trên thế giới, xu hướng xây dựng xanh, giảm phát thải carbon và phát triển bền vững đang ngày càng được ưu tiên.
Trong bối cảnh đó, gỗ kỹ thuật đang nổi lên như một loại vật liệu chiến lược của ngành xây dựng toàn cầu. Vậy nhưng, dường như Việt Nam vẫn đang đứng ngoài “cuộc đua” này.
Các chuyên gia đánh giá, với lợi thế phát triển sẵn có của ngành gỗ thì phân khúc gỗ kỹ thuật đang có cơ hội để gia tăng giá trị sản phẩm.
Ông Phạm Đức Thiềng, chuyên gia nghiên cứu lâm nghiệp của Tổ chức quốc tế Forest Trends, tác giả của Dự thảo báo cáo nghiên cứu Đánh giá tiềm năng và cơ hội phát triển thị trường vật liệu gỗ kỹ thuật trong xây dựng đưa ra nhận định: Trong bối cảnh ngành xây dựng toàn cầu đang chuyển mạnh sang các mô hình phát triển phát thải thấp, vật liệu gỗ kỹ thuật ngày càng được xem là giải pháp thay thế tiềm năng cho bê tông và thép trong nhiều loại công trình.
Theo ông Thiềng, nhiều nước tại châu Âu, Bắc Mỹ và châu Á đã thúc đẩy mạnh việc sử dụng gỗ kỹ thuật trong các công trình nhà ở, khách sạn, trường học, văn phòng và cả nhà cao tầng. Khác với gỗ truyền thống, vật liệu gỗ kỹ thuật được sản xuất bằng công nghệ hiện đại, có khả năng chịu lực cao, ổn định kích thước và đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt.
Tại Việt Nam, ngành gỗ có quy mô lớn song chủ yếu tập trung vào đồ nội thất và gia công theo đơn đặt hàng, trong khi lĩnh vực vật liệu gỗ kỹ thuật phục vụ xây dựng vẫn ở giai đoạn sơ khai. Trong lĩnh vực xây dựng, yếu tố “tiêu dùng xanh” đang dần hình thành. Người tiêu dùng quan tâm đến sức khỏe, môi trường và nguồn gốc sản phẩm, đồng thời có khả năng chi trả ngày càng cao hơn. Do đó, các sản phẩm vật liệu gỗ trong tương lai, nhất là gỗ kỹ thuật của Việt Nam càng có cơ hội để gia tăng thị phần trong nước và thế giới.
Tháo gỡ các điểm nghẽn để ngành gỗ bứt phá
Chuyên gia cho rằng, Việt Nam được đánh giá có nhiều tiềm năng phát triển ngành vật liệu gỗ kỹ thuật nhờ lợi thế lớn về nguồn nguyên liệu rừng trồng. Sau hơn 15 năm mở rộng diện tích, đến năm 2025 cả nước đã có gần 4,9 triệu ha rừng trồng với các loại cây phổ biến như keo, cao su, thông và bạch đàn. Tuy nhiên, phần lớn diện tích hiện nay vẫn được khai thác theo chu kỳ ngắn để phục vụ sản xuất dăm gỗ, khiến nguyên liệu có đường kính nhỏ, dễ cong vênh... chưa đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất các sản phẩm kết cấu chất lượng cao.
Một số điểm nghẽn cũng được chuyên gia chỉ ra như: ngành gỗ chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ cung ứng nguyên liệu và xuất khẩu đồ gỗ, còn lĩnh vực xây dựng chưa xem gỗ kỹ thuật là vật liệu kết cấu chính thức; còn thiếu hệ thống tiêu chuẩn và khung pháp lý cho gỗ kỹ thuật; năng lực thiết kế kỹ thuật và công nghệ sản xuất cũng là thách thức lớn...
Nhiều ý kiến chuyên gia cũng cho rằng, trong bối cảnh các chính sách về phát thải carbon toàn cầu ngày càng siết chặt, vật liệu phát thải thấp như gỗ đang có cơ hội trở thành lựa chọn cạnh tranh trong ngành xây dựng, đặc biệt khi tiếp cận các thị trường tiêu chuẩn cao. Việc thúc đẩy sử dụng gỗ rừng trồng trong nước không chỉ gia tăng giá trị kinh tế mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên rừng và phát triển bền vững.
Rào cản lớn nhất hiện nay nằm ở hệ thống tiêu chuẩn và khung pháp lý. Dù Việt Nam đã có một số tiêu chuẩn liên quan đến gỗ ghép thanh hay gỗ nhiều lớp nhưng vẫn chưa có bộ tiêu chuẩn đầy đủ cho thiết kế, thi công, lắp dựng và nghiệm thu công trình sử dụng gỗ khối kỹ thuật kết cấu. Việt Nam cũng chưa xây dựng được hệ thống phân loại cường độ gỗ tương đương các tiêu chuẩn quốc tế như EN của châu Âu hay ASTM của Hoa Kỳ. Khoảng trống về tiêu chuẩn và chứng nhận không chỉ làm gia tăng chi phí đầu tư, thử nghiệm mà còn khiến doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào chứng nhận nước ngoài, qua đó hạn chế sức cạnh tranh và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu...
Theo các chuyên gia, để vật liệu gỗ kỹ thuật có thể trở thành ngành công nghiệp mới giàu tiềm năng, Việt Nam cần chiến lược phát triển đồng bộ từ hoàn thiện khung pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật đến đầu tư nghiên cứu, đào tạo và tăng cường liên kết giữa ngành lâm nghiệp, chế biến gỗ và xây dựng nhằm hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh cho ngành gỗ kỹ thuật trong tương lai.











