Ngày Quốc tế chống béo phì 4-3: Béo phì 'cõng' gánh nặng bệnh tật và hệ lụy kinh tế – xã hội
Ngày Quốc tế chống béo phì 4-3 là dịp để nhìn lại thực tế đáng lo ngại: Thừa cân, béo phì đang trở thành một trong những thách thức sức khỏe cộng đồng lớn nhất tại Việt Nam.

Ngày Quốc tế chống béo phì 4-3 là dịp để nhìn lạithực tế đáng lo ngại: Thừa cân, béo phì đang trở thành một trong những thách thức sức khỏe cộng đồng lớn nhất tại Việt Nam.
Không chỉ làm thay đổi vóc dáng, béo phì là “mắt xích” khởi phát hàng loạt bệnh không lây nhiễm nguy hiểm như tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch, ung thư… Khi tỷ lệ thừa cân gia tăng nhanh ở cả trẻ em và người trưởng thành, gánh nặng bệnh tật và chi phí điều trị cũng theo đó leo thang.
Thừa cân, béo phì gia tăng nhanh ở trẻ em
Theo số liệu của Bộ Y tế, các bệnh không lây nhiễm hiện đang chiếm 73,7% gánh nặng bệnh tật toàn quốc; riêng năm 2019 ước tính có khoảng 556.000 ca tử vong, trong đó 81,4% do bệnh không lây nhiễm. Đáng chú ý, 44% trường hợp tử vong xảy ra trước 70 tuổi – tức là khi người bệnh vẫn đang trong độ tuổi lao động. Điều này không chỉ gây tổn thất về sức khỏe mà còn làm suy giảm năng suất lao động, tăng chi phí y tế và tạo áp lực dài hạn lên hệ thống an sinh xã hội.
Trong bức tranh chung ấy, béo phì là một yếu tố nguy cơ quan trọng. Việt Nam hiện có 17 triệu người tăng huyết áp, gần 4,6 triệu người mắc đái tháo đường,.. Phần lớn các bệnh lý này có liên quan mật thiết đến chế độ ăn uống mất cân đối, tiêu thụ nhiều đường, muối, chất béo bão hòa và lối sống ít vận động.
Tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em Việt Nam đã tăng gấp đôi trong vòng 10 năm, từ 8,5% năm 2010 lên 19% năm 2020, đến năm 2023, khoảng 20% trẻ từ 5 đến 19 tuổi béo phì. Ở khu vực thành thị, tỷ lệ này lên tới 26,8%. Tại một số đô thị lớn, con số từng được ghi nhận ở mức rất cao, như TP.HCM trên 50% và Hà Nội khoảng 41%. Theo dự báo đến năm 2030, số trẻ béo phì tại Việt Nam có thể lên đến gần 2 triệu. Ở người trưởng thành, tỷ lệ thừa cân, béo phì cũng tăng 30% trong 6 năm, từ 15,6% năm 2015 lên 19,5% năm 2020. Điều này cho thấy béo phì không còn là vấn đề cá biệt mà đã trở thành xu hướng đáng lo ngại trong toàn xã hội.
Một trong những nguyên nhân chính là xu hướng tiêu thụ thực phẩm chế biến, đóng gói sẵn tăng mạnh, với mức tiêu dùng tăng hơn 10 lần giai đoạn 2000–2017. Người Việt hiện tiêu thụ trung bình 8,1g muối/ngày và 46,5g đường tự do/ngày – cao gần gấp đôi so với khuyến cáo có lợi cho sức khỏe. Đây là những yếu tố trực tiếp thúc đẩy thừa cân, rối loạn chuyển hóa và bệnh tim mạch.
Béo phì không chỉ làm tăng nguy cơ bệnh tật mà còn kéo theo chi phí điều trị dài hạn. Các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tim mạch đòi hỏi theo dõi suốt đời, dùng thuốc thường xuyên và có nguy cơ biến chứng nặng. Khi bệnh xuất hiện ở độ tuổi lao động, xã hội phải đối mặt với sự suy giảm năng suất, tăng chi phí bảo hiểm và áp lực lên hệ thống y tế. Đặc biệt, trẻ em béo phì hôm nay rất dễ trở thành người lớn mắc bệnh mạn tính ngày mai, tạo thành “vòng xoáy” bệnh tật kéo dài qua nhiều thập kỷ.
Dinh dưỡng hợp lý – nền tảng phòng bệnh
Trong số các yếu tố, dinh dưỡng không hợp lý là nguyên nhân chính dẫn đến béo phì ở trẻ nhỏ, đặc biệt là các chế độ ăn uống dư thừa chất béo, đường, đồ ăn nhanh, uống nước ngọt thường xuyên… PGS.TS. BS.Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia nêu tác hại của đồ uống có đường tới sức khỏe, đặc biệt là tác động tới trẻ em. Theo đó, tiêu thụ đồ uống có đường trong thời thơ ấu có liên quan đến nguy cơ béo phì và thừa cân/béo phì cao hơn ở 5 tuổi. Nếu uống thêm mỗi 100ml đồ uống có đường mỗi ngày có liên quan đến chỉ số BMI cao hơn và tăng nguy cơ thừa cân/béo phì lên 1,2 lần ở tuổi lên 6.
Bà Mai cũng dẫn các khuyến nghị hạn chế tiêu thụ đồ uống có đường ở trẻ em. Theo đó, trẻ em dưới 2 tuổi không nên tiêu thụ bất kỳ loại thực phẩm hoặc đồ uống nào có thêm đường. Đối với trẻ em từ 2 đến 18 tuổi, hạn chế lượng đường tiêu thụ xuống dưới 25 gram mỗi ngày (
Để phòng chống béo phì, cần xây dựng khẩu phần phù hợp theo lứa tuổi. Nhu cầu năng lượng và chất đạm của trẻ như sau: Trẻ 6 tuổi cần 1.600 kcal/ngày; 36g đạm; trẻ từ 7 -9 tuổi cần 1.800 kcal/ngày; 40g đạm; trẻ 10-12 tuổi cần 2.100–2.200 kcal/ngày; 50g đạm. Trong điều kiện không đa dạng thực phẩm, có thể quy đổi tương đương: 100g thịt nạc tương đương 150g cá hoặc tôm, 200g đậu phụ, 2 trứng vịt hoặc 3 trứng gà. Nếu ăn bún, miến, phở, khoai, ngô, sắn thì cần giảm lượng gạo để tránh dư thừa năng lượng. Song song với đó, chế độ ăn uống cần tăng rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt; hạn chế đồ uống có đường, thức ăn nhanh và thực phẩm siêu chế biến.
Phòng chống thừa cân, béo phì không chỉ là trách nhiệm của ngành Y tế mà cần sự phối hợp của ngành Giáo dục và toàn xã hội. Nhà trường cần xây dựng bữa ăn học đường cân đối, trẻ cần được giáo dục về dinh dưỡng và lối sống lành mạnh ngay từ sớm. Trong đó, gia đình giữ vai trò nền tảng. Cha mẹ cần làm gương trong ăn uống điều độ; khuyến khích con tham gia thể thao thay vì dành quá nhiều thời gian cho thiết bị điện tử. Việc can thiệp sớm, thay đổi hành vi dinh dưỡng và lối sống là cách hiệu quả nhất để giảm gánh nặng bệnh tật do béo phì. Đây không chỉ là câu chuyện của cân nặng, mà là chiến lược đầu tư cho sức khỏe và tương lai của cả một thế hệ.














