Nghệ An: 3 mái nhà 'giữ lửa' cho nghề giấy dó giữa dòng chảy mưu sinh

Những ngày cuối đông, khi tia nắng hiếm hoi ghé qua làng Phong Phú, khoảng sân nhỏ lại được phủ kín bởi những khuôn giấy dó duy nhất còn lại của tỉnh Nghệ An.

Độc đáo làng nghề giấy dó duy nhất ở Nghệ An

Làng nghề giấy dó Phong Phú (phường Vinh Lộc, Nghệ An) được công nhận là làng nghề cấp tỉnh vào tháng 12/2007. Không ai nhớ chính xác nghề có từ bao giờ, những người lớn tuổi nhất cũng chỉ nhớ khi bắt đầu hiểu biết thì đã nghe tiếng chày giã quen thuộc như nhịp thở của làng.

Theo truyền thống cha truyền con nối, nghề làm giấy dó trải qua nhiều thế hệ.

Theo truyền thống cha truyền con nối, nghề làm giấy dó trải qua nhiều thế hệ.

Ngày ấy, thương lái từ Thanh Hóa, Hà Tĩnh… tấp nập tìm về để mua cho bằng được. Nhờ đó mà giấy làm ra bán "đắt như tôm tươi", đủ loại từ giấy để viết chữ nho, làm quạt, quấn hương trầm đến dán mình cá biển.

Giờ đây, đáng tiếc thay, thời vàng son ấy chỉ còn trong ký ức. Hàng trăm hộ dân đã rẽ sang những con đường mưu sinh khác bởi nghề giấy dó không còn đưa lại hiệu quả kinh tế nữa. Cho đến nay, làng nghề giấy dó Phong Phú chỉ còn vỏn vẹn 3 hộ bám trụ, tất cả đều đã ngoài sáu mươi và làm nghề trong tâm thế "túc tắc qua ngày".

"Nhà tôi làm nhiều nhất, rồi đến nhà bà Tâm và một nhà nữa", bà Nguyễn Thị Loan, 66 tuổi, vừa xếp khuôn giấy vừa chậm rãi kể. Nghề này ông bà để lại, gia đình đã nối nghiệp hơn 40 năm rồi.

Dù công việc vất vả, thu nhập chẳng là bao nhưng đó là nghề truyền thống của cha ông nên gia đình vẫn cố gắng duy trì. "Giờ không có đầu vào, cũng chẳng có đầu ra ổn định, người ta bỏ nghề hết. Con cái thì đi nước ngoài, đi công ty, buôn bán… không ai theo nghề nữa", bà Loan nói, giọng chùng xuống.

Nguyên liệu chính để làm ra được những khuôn giấy mỏng, dai và mịn được lấy từ vỏ của thân cây niệt.

Nguyên liệu chính để làm ra được những khuôn giấy mỏng, dai và mịn được lấy từ vỏ của thân cây niệt.

Bà kể, làm giấy dó không khó, nhưng dài giờ và nhiều "việc không tên". Từ tờ mờ sáng đến tối mịt, người thợ đi qua hàng chục công đoạn từ tước vỏ, luộc, phơi, nấu với vôi, vo rửa, giã nhuyễn đến đãi nước, rồi seo giấy.

Mỗi thùng 50kg nguyên liệu ngốn tới 20kg than. Trong đó, công đoạn khó nhất là cạo vỏ cây niệt cho thật trắng bởi vì chỉ cần sơ sẩy, giấy sẽ ố màu, mất đi vẻ đẹp trắng mướt vốn có của loại giấy này.

Khâu seo giấy tưởng nhẹ nhàng nhưng lại đòi hỏi sự kiên trì và khéo léo. Bên tàu seo, người thợ phải múc nước bột giấy, gác lên đòn tre cho nước chảy xuống. Khi chỉ còn bột đọng lại trên khuôn, mới có thể đem phơi nắng. Giấy dày hay mỏng phụ thuộc vào "ngữ đỉnh" của khuôn seo. Khuôn khô, bóc ra là có một tờ giấy mỏng, trắng đục, trong và dai, được bán với giá 5.000 đồng/tờ.

Giấy dó có thể để nhiều năm mà không mục nhờ sợi dó hút và nhả ẩm rất tốt. Chính vì thế, sản phẩm giấy dó của Phong Phú từng được người khắp nơi ưa chuộng.

Tranh thủ ngày nắng, giấy dó được phơi trên đường trước khi ra thành phẩm.

Tranh thủ ngày nắng, giấy dó được phơi trên đường trước khi ra thành phẩm.

Bà Loan kể với giọng tự hào: "Hằng năm, khách Hà Nội vẫn về đây đặt làm giấy dó. Giấy họ đặt là loại giấy dày, loại đẹp để quấn diều, làm đèn lồng, túi thủ công và phục vụ cho nghệ thuật".

Với những đơn đặt hàng đặc biệt đó, giấy dó có giá hơn, rơi vào 15.000 đồng/tờ. Với ngày thường, giấy dó mỏng hơn sẽ được bán trong tỉnh với giá chỉ 5.000 đồng/tờ và chủ yếu do khách ở Cửa Lò, Cửa Hội, Quỳnh Lưu, Diễn Châu mua để dán cá, làm hương. Nhưng tất cả đều phải đặt trước, có nắng mới làm được. Một ngày thuận trời, thu nhập cũng được chừng 300.000 đồng.

"Làm nghề này phải biết tranh thủ. Ngày mưa làm vỏ, ngày nắng tráng phơi. Không nặng nhọc, nhưng phải chịu khó và khéo tay. Cũng vì cái "chịu khó" ấy mà giờ đây lớp trẻ cũng không mấy hứng thú nữa", bà Trương Thị Hải chia sẻ.

Giữ nghề bằng ký ức, níu làng bằng những tờ giấy mỏng manh

Hiện nay, tại Bảo tàng Nghệ An, giấy dó Phong Phú được trưng bày như để minh chứng cho một nghề lâu năm. Nhưng ngoài đời sống, nghề đang đứng trước nguy cơ thất truyền rõ rệt. Giữa nhịp sống hôm nay, nghề giấy dó không còn là lựa chọn mưu sinh hấp dẫn.

Hàng trăm hộ dân làm giấy dó khi xưa nay chỉ còn 3 hộ.

Hàng trăm hộ dân làm giấy dó khi xưa nay chỉ còn 3 hộ.

Giữa khoảng sân phơi lặng gió, giấy dó vẫn trắng đục, mềm mướt như xưa, nhưng tương lai của nghề thì mong manh hơn bao giờ hết. Đầu vào khan hiếm, đầu ra thu hẹp, thu nhập bấp bênh khiến người trẻ không mặn mà nối nghiệp.

Ba hộ làm nghề, người trẻ nhất cũng đã ngoài 60 tuổi. Họ làm giấy như một cách giữ nghề cho làng, giữ lại ký ức của cha ông. Thế nhưng, ký ức không thể thay thế sức trẻ. Khi không còn người nối nghiệp, những tờ giấy dó mỏng manh lại đang gánh trên mình nỗi lo nặng trĩu về sự đứt gãy của một làng nghề hàng trăm năm tuổi.

Khung giấy dó rợp trời bây giờ chỉ nằm khiêm tốn trong sân.

Khung giấy dó rợp trời bây giờ chỉ nằm khiêm tốn trong sân.

Bà Hoàng Thị Xuyến, chuyên viên Phòng Kinh tế – Hạ tầng Đô thị phường Vinh Lộc cho biết, nghề làm giấy dó đã xuất hiện ở địa phương từ rất lâu, đến nay không còn ai xác định được chính xác thời điểm hình thành. Trước đây, toàn phường có hàng trăm hộ theo nghề, riêng năm 2016 còn khoảng 120 hộ sản xuất, nhưng hiện chỉ còn vỏn vẹn 3 hộ bám trụ.

"Việc duy trì nghề hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm và đầu ra sản phẩm thiếu ổn định. Dù đã được công nhận là làng nghề, song tương lai của nghề giấy dó hiện phụ thuộc hoàn toàn vào nỗ lực tự thân của những hộ dân còn gắn bó", đại diện Phòng Kinh tế – Hạ tầng Đô thị phường Vinh Lộc nói.

Ngọc Ánh

Nguồn Người Đưa Tin: https://nguoiduatin.vn/nghe-an-3-mai-nha-giu-lua-cho-nghe-giay-do-giua-dong-chay-muu-sinh-204260120133747133.htm