Nghè Nguyệt Viên hơn 4 thế kỷ lưu giữ hồn làng khoa bảng xứ Thanh
Ở phường Nguyệt Viên (tỉnh Thanh Hóa), có một công trình vẫn lặng lẽ tồn tại như một 'mốc neo' của ký ức. Nghè Nguyệt Viên nép mình dưới những tán cây, lưu giữ gần như nguyên vẹn dấu ấn của hơn bốn thế kỷ lịch sử. Mái ngói phủ rêu, hệ khung gỗ, những mảng chạm khắc tinh xảo cùng không gian thờ tự linh thiêng đã tạo nên một di sản kiến trúc đặc sắc, phản chiếu truyền thống hiếu học của một trong những làng khoa bảng nổi tiếng xứ Thanh.
Video: Kiến trúc Nghè Nguyệt Viên hơn 400 năm tuổi.

Nghè Nguyệt Viên được khởi dựng vào năm Quý Tỵ, niên hiệu Quang Hưng, dưới triều vua Lê Thế Tông (1593). Công trình được đại trùng tu vào năm 1827 dưới triều Minh Mệnh và tiếp tục sửa chữa năm 1896 thời vua Thành Thái. Đến năm 1996, Nghè được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh.

Dẫu nhiều lần được tu bổ, công trình vẫn bảo lưu gần như nguyên vẹn dáng dấp kiến trúc truyền thống, trở thành một trong số ít di tích còn lưu giữ khá đầy đủ diện mạo của một thiết chế tín ngưỡng làng xã vùng đồng bằng Bắc Trung Bộ.

Nghè Nguyệt Viên không gây ấn tượng bởi quy mô đồ sộ mà chinh phục người xem bằng vẻ đẹp trầm mặc của thời gian. Mái ngói rêu phong phủ kín, những bức tường đã ngả màu, nền gạch cũ in dấu chân của biết bao thế hệ khiến không gian như chậm lại.

Phía trước bậc tam cấp là đôi sấu đá trong tư thế chồm tới, đầu hơi ngẩng, mắt lồi, mũi thon, miệng ngậm viên ngọc. Qua hàng trăm năm mưa nắng, từng đường nét điêu khắc vẫn sắc sảo, tạo nên thần thái uy nghi cho công trình.

Bước vào bên trong, toàn bộ hệ khung gỗ lim lớn lập tức thu hút ánh nhìn. Những cột gỗ có được đặt trên các chân tảng đá xanh, liên kết với hệ vì kèo chắc khỏe, tạo nên kết cấu bền vững suốt nhiều thế kỷ. Không gian nghè có quy mô một gian hai chái, bố cục cân đối. Đặc biệt, hệ mái hai lớp có cổ diêm vừa tạo sự thông thoáng vừa tăng vẻ thanh thoát cho tổng thể kiến trúc - một đặc trưng hiếm gặp còn được bảo tồn khá nguyên vẹn.

Điểm nổi bật nhất chính là nghệ thuật chạm khắc gỗ đạt đến trình độ tinh xảo. Các đầu dư, con rường, xà ngang gần như đều được phủ kín những mảng chạm nổi sống động với hình tượng rồng, phượng, lân, hoa sen, dây lá hóa long, cành liễu, nụ hoa... Mỗi đường đục đều dứt khoát nhưng mềm mại, tạo cảm giác các linh vật như đang chuyển động trên bề mặt gỗ.

Điều đáng quý là không có sự lặp lại đơn điệu. Mỗi mảng chạm mang một bố cục, một nhịp điệu riêng, thể hiện tư duy mỹ thuật cùng kỹ thuật chế tác bậc cao của những nghệ nhân xưa.

Không chỉ có giá trị về kiến trúc nghệ thuật, Nghè Nguyệt Viên còn là trung tâm đời sống tâm linh của cộng đồng suốt nhiều thế kỷ. Chính điện thờ nữ Thành hoàng làng - Công chúa Mai Hoa. Không gian thờ tự được bài trí trang nghiêm với hệ thống hoành phi, câu đối, khám thờ và đồ tế khí sơn son thếp vàng vẫn giữ được vẻ uy nghiêm cổ kính.

Nghè Nguyệt Viên không chỉ thờ Thành hoàng làng mà còn là nơi tôn vinh truyền thống hiếu học của làng khoa bảng. Trong di tích hiện lưu tấm bia khắc danh những vị tiến sĩ đỗ đạt thời phong kiến của vùng đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học và khoa cử của xứ Thanh.

Sự kết hợp giữa tín ngưỡng thờ Thành hoàng và truyền thống tôn vinh hiền tài đã khiến Nghè Nguyệt Viên vượt ra khỏi vai trò của một thiết chế tín ngưỡng thông thường để trở thành biểu tượng cho tinh thần trọng học, trọng đạo của cả một vùng đất.

Phía trước sân Nghè, tấm văn bia cổ vẫn được gìn giữ cẩn trọng. Dẫu đã xuất hiện những vết nứt sau nhiều lần chịu tác động của thời gian, văn bia vẫn là nguồn tư liệu quý, ghi dấu quá trình hình thành và phát triển của ngôi làng ven sông Mã.

Nếu trước đây Nghè Nguyệt Viên từng nằm trong một quần thể gồm giếng nước, cầu đá, cây cổ thụ và nhiều công trình phụ trợ thì ngày nay, sau những biến thiên của lịch sử nghè là hạng mục còn giữ được gần như nguyên vẹn. Mỗi năm, vào ngày mùng 10 tháng Hai âm lịch, lễ hội Nghè Nguyệt Viên lại được tổ chức với nhiều hoạt động đậm bản sắc như lễ tế truyền thống, đua thuyền trên sông Mã, hát đối...

Giữa nhịp sống hiện đại, Nghè Nguyệt Viên vẫn lặng lẽ đứng đó như một “bảo tàng sống” của kiến trúc gỗ truyền thống và văn hóa làng Việt. Mỗi lớp mái ngói phủ rêu, mỗi thân cột lim, mỗi mảng chạm khắc tinh vi hay từng phiến đá trước sân đều không chỉ là hiện vật của quá khứ, mà còn là những trang sử lặng thầm kể về một vùng đất từng sản sinh nhiều bậc hiền tài, nơi tinh thần hiếu học và lòng tôn kính tiền nhân vẫn được gìn giữ nguyên vẹn qua bao lớp thời gian.












