Nghị quyết 214/NQ-CP rút ngắn khoảng cách thực thi, đưa Nghị quyết 57/NQ-TW vào cuộc sống
Chuỗi Nghị quyết trụ cột của Đảng từ Nghị quyết 57-NQ/TW, 59-NQ/TW, 68-NQ/TW, 70-NQ/TW, 79-NQ/TW và 214/NQ-CP đang định hình một kiến trúc điều hành phát triển mới. Theo Tiến sĩ Trần Văn Khải, đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy 'định hướng' sang 'thiết kế thi hành'.

Trong quá trình tham gia thực hiện chức năng lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đại biểu Quốc hội khóa XV, XVI chia sẻ, trong giai đoạn sau Đại hội XIV, hệ thống nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam không còn chỉ làm chức năng “định hướng chung”, mà đã trở thành một kiến trúc điều hành phát triển có tính tầng bậc rất rõ: Đại hội XIV xác lập tầm nhìn và mô hình tăng trưởng mới; Nghị quyết 57-NQ/TW, 59-NQ/TW, 66-NQ/TW, 68-NQ/TW, 70-NQ/TW, 71-NQ/TW, 72-NQ/TW, 73-NQ/TW được xác định là các Nghị quyết trụ cột; Nghị quyết 70-NQ/TW bổ sung trụ cột năng lượng; Nghị quyết 79-NQ/TW tái định vị kinh tế nhà nước; còn Nghị quyết 214/NQ-CP kéo các định hướng lớn ấy đi thẳng vào khâu tổ chức thực hiện thông qua dữ liệu, nền tảng số, cơ chế phối hợp và lịch trình hành động cụ thể. Nói cách khác, đây là sự chuyển từ “có chủ trương đúng” sang “có cả thiết kế thi hành”.
Theo ông, điểm mới nổi bật của Nghị quyết Đại hội XIV là xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia làm động lực chính; đồng thời khẳng định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” và nhấn mạnh vai trò kiến tạo phát triển của hệ thống chính trị. Nhưng chính Nghị quyết Đại hội XIV cũng thẳng thắn chỉ ra một thực tế cốt lõi: công tác tổ chức thực hiện nghị quyết, chính sách, pháp luật “vẫn chưa bắt kịp yêu cầu phát triển bứt phá”. Đây chính là logic nối tiếp giữa Nghị quyết 13-NQ/TW, Nghị quyết 10-NQ/TW, Nghị quyết 52-NQ/TW, Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 59-NQ/TW, Nghị quyết 68-NQ/TW, Nghị quyết 70-NQ/TW, Nghị quyết 79-NQ/TW và Nghị quyết 214/NQ-CP: từ mở đường tư duy, hợp thức hóa động lực mới, đến xây nền thể chế và rút ngắn khoảng cách từ quyết sách tới kết quả phát triển.
Xoay quanh những nội dung này, phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi chi tiết với Tiến sĩ Trần Văn Khải nhằm làm rõ hơn những điểm mới, những yêu cầu đặt ra cũng như các giải pháp để hiện thực hóa các nghị quyết trong thực tiễn phát triển đất nước.
VAI TRÒ ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC BƯỚC NGOẶT QUYẾT SÁCH
Phóng viên: Thưa ông, vì sao các nghị quyết lớn của Đảng và Chính phủ lại có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng và điều hành phát triển quốc gia qua từng giai đoạn?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Tôi cho rằng, trong điều kiện phát triển của Việt Nam, nghị quyết lớn có ba giá trị đặc biệt.
Thứ nhất, đó là công cụ xác lập ưu tiên chiến lược ở tầm quốc gia, giúp toàn hệ thống chính trị nhìn cùng một hướng, dùng cùng một ngôn ngữ chính sách và hành động theo cùng một trật tự ưu tiên.
Thứ hai, nghị quyết tạo cơ sở chính trị để chuyển hóa thành chương trình lập pháp, chương trình hành động của Chính phủ, cơ chế phân bổ nguồn lực và hệ thống kiểm tra, giám sát.
Thứ ba, nghị quyết làm chức năng “giữ nhịp cải cách”: khi bối cảnh thay đổi rất nhanh, nó giúp Nhà nước không bị kéo theo xử lý sự vụ, mà giữ được tầm nhìn dài hạn và tính nhất quán.

Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.
Chính vì vậy, các trụ cột gần đây như Nghị quyết 57-NQ/TW, 59-NQ/TW, 66-NQ/TW, 68-NQ/TW, 79-NQ/TW không tồn tại rời rạc, mà vận hành như một gói cải cách tổng thể về khoa học-công nghệ, hội nhập, thể chế pháp luật và khu vực tư nhân và kinh tế nhà nước.
Cách tiếp cận này hoàn toàn phù hợp với kết luận của World Bank rằng tiến bộ thể chế không chỉ là ban hành luật mới, mà phải có tổ chức đủ năng lực, hệ thống đủ mạnh và động lực thực thi đủ đúng để biến mục tiêu thành kết quả.
Phóng viên: Nhìn lại các mốc như Nghị quyết 10-NQ/TW và Nghị quyết 13-NQ/TW, theo ông, yếu tố nào đã tạo nên tính “bước ngoặt” của các quyết sách này?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Yếu tố làm nên tính bước ngoặt không nằm ở câu chữ mạnh, mà ở chỗ nghị quyết nhận diện đúng điểm nghẽn lịch sử và dám thay đổi cách nhìn về động lực phát triển. Với Nghị quyết 13-NQ/TW năm 1988, bước ngoặt nằm ở việc chuyển tư duy đối ngoại từ thế bị bao vây, đối đầu sang mở rộng quan hệ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đặt lợi ích cao nhất là giữ vững hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế.
Tư liệu chính thức của Đảng đánh giá Nghị quyết 13-NQ/TW là mốc khởi đầu đổi mới tư duy đối ngoại; từ nền tảng đó, Việt Nam đi từ bị cô lập sang thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước, có 34 quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện, tham gia hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế.
Với Nghị quyết 10-NQ/TW năm 2017, bước ngoặt là hợp thức hóa mạnh mẽ hơn vị thế của kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, qua đó tạo “đòn bẩy nhận thức” và “đòn bẩy pháp lý” cho doanh nghiệp đầu tư dài hạn, đổi mới sáng tạo và lớn lên.
Nói ngắn gọn, Nghị quyết 13-NQ/TW mở không gian phát triển ra bên ngoài; Nghị quyết 10 mở không gian phát triển từ bên trong. Hai quyết sách đều bước ngoặt vì cùng giải phóng một nút thắt căn bản của thời đại mình.

TỪ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ ĐẾN MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚI
Phóng viên: Với Nghị quyết 52-NQ/TW, lần đầu tiên Việt Nam đặt chuyển đổi số và công nghệ vào chiến lược quốc gia, ông đánh giá sự thay đổi về tư duy phát triển ra sao?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Điểm cốt lõi của Nghị quyết 52-NQ/TW là chuyển công nghệ từ vị trí “công cụ hỗ trợ” lên vị trí “biến số chiến lược” trong tư duy phát triển. Trước đó, cải cách của ta chủ yếu nhấn mạnh mở cửa, hoàn thiện thể chế thị trường, cải thiện môi trường đầu tư. Nghị quyết 52-NQ/TW bổ sung một tầng tư duy mới: nếu không chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nền kinh tế rất dễ rơi vào bẫy gia công, năng suất thấp và lệ thuộc công nghệ.
Chính vì vậy, các nguồn chính thức của cơ quan Đảng và Nhà nước khi triển khai Nghị quyết 52-NQ/TW đều nhấn mạnh mục tiêu phát triển nhanh, bền vững dựa trên khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; đồng thời đặt các đích số hóa rất rõ như kinh tế số đạt khoảng 20% GDP vào năm 2025 và hơn 30% GDP vào năm 2030.
Đây là thay đổi rất căn bản: tăng trưởng không chỉ đến từ vốn, lao động và mở rộng thị trường, mà phải đến từ dữ liệu, nền tảng số, năng lực công nghệ và mô hình kinh doanh mới. Bởi vậy, Nghị quyết 52-NQ/TW là chiếc cầu nối giữa giai đoạn “cải cách để hội nhập” với giai đoạn “đổi mới sáng tạo để bứt phá”.

Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phát biểu tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.
Phóng viên: Đến Nghị quyết 57-NQ/TW, khi khoa học – công nghệ được xác định là động lực trung tâm, điều này đặt ra yêu cầu gì mới cho mô hình tăng trưởng?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Nghị quyết 57-NQ/TW đẩy tư duy của Nghị quyết 52-NQ/TW lên một nấc mới: không chỉ “chủ động tham gia” mà phải “đột phá phát triển”, coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu”. Đây là yêu cầu chuyển mô hình tăng trưởng từ dựa nhiều vào vốn, lao động rẻ và mở rộng quy mô sang mô hình dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và quản trị hiện đại.
Nghị quyết 57-NQ/TW đặt các chỉ tiêu rất rõ: đóng góp của TFP vào tăng trưởng trên 55%; chi R&D đạt 2% GDP, trong đó khu vực xã hội chiếm hơn 60%; quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP vào năm 2030 và 50% GDP vào năm 2045. Tư duy thể chế cũng đổi rất mạnh: người dân và doanh nghiệp là trung tâm, nhà khoa học là nhân tố then chốt, Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt; thể chế phải đi trước một bước và phải loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm”.
Đây là mệnh lệnh cải cách rất sâu, vì nó đòi hỏi luật pháp, ngân sách, mua sắm công, nhân lực công vụ, hạ tầng dữ liệu và thị trường vốn phải cùng thay đổi. Kết luận của World Bank cũng rất rõ: để đạt thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải đẩy nhanh tăng năng suất, chuyển sang sản xuất và dịch vụ giá trị gia tăng cao hơn, với vai trò lớn hơn của khu vực tư nhân và thể chế dự báo được.
NGHỊ QUYẾT 214/NQ-CP VÀ CƠ CHẾ ĐỒNG HÀNH CÔNG-TƯ-DỮ LIỆU
Phóng viên: Với Nghị quyết 214/NQ-CP, việc thúc đẩy cơ chế doanh nghiệp công nghệ “đồng hành” cùng khu vực công có thể tạo ra thay đổi gì trong cách triển khai các dự án công nghệ?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Tác động lớn nhất của Nghị quyết 214/NQ-CP là thay đổi phương thức triển khai các dự án công nghệ từ kiểu “cơ quan nhà nước tự làm-chia nhỏ-mua sắm phân tán” sang kiểu “thiết kế chung-chuẩn hóa chung-huy động doanh nghiệp đồng hành-triển khai theo kiến trúc dữ liệu thống nhất”.
Nghị quyết yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phối hợp với Bộ Công an và các doanh nghiệp đồng hành để xây dựng chiến lược dữ liệu, chiến lược chuyển đổi số; rà soát toàn bộ hệ thống cơ sở dữ liệu; số hóa, chuẩn hóa, đồng bộ về Trung tâm dữ liệu quốc gia; đồng thời phối hợp với các tập đoàn, doanh nghiệp để đẩy nhanh các cơ sở dữ liệu đang xây dựng và ưu tiên hoàn thành các cơ sở dữ liệu phục vụ trực tiếp cải cách thủ tục hành chính, quyền lợi, nghĩa vụ thiết thực của người dân và doanh nghiệp.
Phụ lục kèm theo nghị quyết còn liệt kê danh mục 330 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, cùng danh sách doanh nghiệp đồng hành cho 23 nhóm cơ quan, từ bộ, ngành, cơ quan Đảng, Quốc hội Việt Nam, Mặt trận, đến Tòa án, Viện kiểm sát và địa phương. Điều đó cho thấy Nhà nước đang chuyển từ đặt mua sản phẩm rời rạc sang tổ chức một “hệ sinh thái triển khai” có cộng tác kỹ thuật, trách nhiệm rõ và chuẩn dùng chung.
Phóng viên: Từ góc độ thể chế, ông đánh giá thế nào về khả năng Nghị quyết 214/NQ-CP góp phần rút ngắn khoảng cách từ chính sách đến thực thi, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu về tốc độ và tính linh hoạt ngày càng cao?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Tôi đánh giá Nghị quyết 214/NQ-CP có tiềm năng rất lớn để rút ngắn khoảng cách từ chính sách tới thực thi, bởi văn bản này không dừng ở khẩu hiệu mà đã đi vào bốn “điểm chạm” thiết yếu của thi hành: kiến trúc, tiêu chuẩn, nguồn lực và trách nhiệm.
Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện kiến trúc dữ liệu quốc gia, từ điển dữ liệu dùng chung, quy định kết nối-chia sẻ bắt buộc; gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả; xác định mốc thời gian rất ngắn cho từng hạng mục; đồng thời mở đường cho hình thức hợp tác công tư, cho cơ chế ưu tiên đặt hàng, chỉ định thầu đối với dự án dữ liệu và sản phẩm, dịch vụ chuyển đổi số trong phạm vi pháp luật cho phép. Đây chính là cách rút ngắn “độ trễ thể chế”.
Tuy nhiên, để nghị quyết thực sự phát huy hiệu lực, phải xử lý các điểm nghẽn mà OECD và World Bank nhiều lần lưu ý: phối hợp liên cơ quan còn yếu, thực thi chưa đồng đều, năng lực công vụ và động cơ thực thi còn là ràng buộc lớn. Nói cách khác, Nghị quyết 214/NQ-CP đã tạo ra một thiết kế tốt hơn cho thi hành; nhưng để thu hẹp khoảng cách chính sách-thực thi bền vững, nhất thiết phải có kỷ luật thời hạn, minh bạch dữ liệu, phân cấp đi đôi với kiểm tra và cơ chế bảo vệ người dám làm đúng pháp luật.

TỪ CỞI TRÓI ĐẾN KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN
Phóng viên: Nhìn tổng thể từ các nghị quyết năm 1988 đến nay, theo ông, tư duy điều hành đã chuyển dịch như thế nào – từ “cởi trói” sang “kiến tạo phát triển”?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Nếu nhìn theo đường dài, có thể thấy rất rõ ba nấc chuyển. Nấc thứ nhất là “cởi trói”: tháo gỡ những ràng buộc tư duy và thể chế đang kìm hãm phát triển. Nghị quyết 13-NQ/TW năm 1988 là điển hình, khi mở hướng đối ngoại rộng mở để phá thế bao vây, giữ hòa bình cho phát triển kinh tế.
Nấc thứ hai là “mở đường và hợp thức hóa động lực mới”: kinh tế tư nhân được nhìn nhận ngày càng đầy đủ hơn, từ bộ phận cấu thành quan trọng đến một động lực quan trọng, rồi một động lực quan trọng nhất; hội nhập đi từ kinh tế sang toàn diện; công nghệ đi từ công cụ ứng dụng sang chiến lược quốc gia.
Nấc thứ ba là “kiến tạo phát triển”: Nhà nước không chỉ bỏ rào cản, mà chủ động thiết kế luật chơi, hạ tầng, dữ liệu, nền tảng và cơ chế huy động nguồn lực xã hội.
Đại hội XIV kết tinh rất rõ bước chuyển này khi xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; Nghị quyết 59 chuyển hội nhập từ “tiếp nhận” sang “đóng góp”; Nghị quyết 70 yêu cầu năng lượng đi trước một bước; Nghị quyết 79-NQ/TW yêu cầu kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo, mở đường, dẫn dắt; còn Nghị quyết 214/NQ-CP đưa tư duy đó vào hạ tầng dữ liệu và quy trình thi hành. Như vậy, “cởi trói” là điều kiện cần; “kiến tạo phát triển” mới là trạng thái quản trị trưởng thành hơn của thời kỳ mới.
Phóng viên: Theo ông, vai trò của chính sách – đặc biệt là các nghị quyết lớn – trong việc tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội hiện nay đang thay đổi ra sao?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Vai trò của chính sách hiện nay đang chuyển từ “cho phép phát triển” sang “tạo lập thị trường, định hình kỳ vọng và chia sẻ rủi ro phát triển”. Trong giai đoạn trước, thành công chính sách thường được đo bằng số rào cản được bỏ đi. Còn hiện nay, trong các lĩnh vực như bán dẫn, dữ liệu, AI, năng lượng, đổi mới sáng tạo, chỉ bỏ rào cản là chưa đủ; Nhà nước còn phải đặt chuẩn, tạo hạ tầng, mở đường vốn, đặt hàng đổi mới sáng tạo, khuyến khích hình thành doanh nghiệp chiến lược, điều phối giữa trung ương-địa phương-doanh nghiệp-viện trường.
Nghị quyết 57-NQ/TW là thí dụ điển hình khi đặt doanh nghiệp và người dân ở trung tâm nhưng xác định Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt; Nghị quyết 79-NQ/TW tiếp tục phát triển tư duy đó khi yêu cầu kinh tế nhà nước không bao cấp tràn lan mà phải kích hoạt, dẫn dắt nguồn lực xã hội; Nghị quyết 214/NQ-CP cụ thể hóa bằng cơ chế doanh nghiệp đồng hành, chuẩn dữ liệu dùng chung và ưu tiên đầu tư cho các cơ sở dữ liệu phục vụ thủ tục hành chính, quyền lợi thiết thân.
Theo đánh giá của World Bank, để đạt mục tiêu thu nhập cao, Việt Nam cần một “big push” về thể chế, gồm đầu tư công thông minh hơn, quy định rõ ràng hơn, công vụ có động lực hơn và chính quyền địa phương hiệu quả hơn. Điều đó có nghĩa là, trong giai đoạn hiện nay, chính sách phải vừa đúng hướng, vừa đủ lực, vừa đủ khả năng dẫn dắt thị trường.
ĐIỂM NGHẼN THỰC THI VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO GIAI ĐOẠN TỚI
Phóng viên: Từ thực tiễn, theo ông, vì sao nhiều nghị quyết được đánh giá là đúng và trúng nhưng khi triển khai lại gặp vướng mắc? Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở đâu?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất không còn nằm chủ yếu ở khâu nhận thức chiến lược, mà nằm ở chất lượng thể chế thực thi. Nói cách khác, ta ngày càng “nghĩ đúng” hơn, nhưng chưa phải lúc nào cũng “làm nhanh, làm trúng, làm đến cùng”.
Nghị quyết Đại hội XIV đã thẳng thắn nêu tình trạng công tác tổ chức thực hiện chưa bắt kịp yêu cầu phát triển bứt phá. Các nghiên cứu của OECD và World Bank cũng cùng một kết luận: quản lý, điều phối và thực thi là ràng buộc xuyên suốt; pháp luật và thủ tục hành chính còn là gánh nặng; áp dụng luật thiếu nhất quán; cấu trúc điều phối phức tạp; động lực công vụ và năng lực phân tích tác động chính sách còn hạn chế.

Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.
Trong lĩnh vực kinh tế tư nhân, World Bank chỉ ra rằng gần 2/3 startup coi quy định kinh doanh là một thách thức; năng suất khu vực tư nhân trong nước chỉ bằng khoảng một phần năm khu vực FDI. Trong lĩnh vực dữ liệu và số hóa, nếu không có chuẩn chung, không có cơ chế dùng chung và không có đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng, sẽ tái diễn tình trạng đầu tư phân tán, cơ sở dữ liệu cát cứ, làm chậm cả cải cách hành chính lẫn tăng trưởng. Vì vậy, “đúng và trúng” ở tầng chủ trương là rất cần, nhưng “đủ thực thi” mới là nơi quyết định thành bại.
Phóng viên: Từ các bài học quá khứ, ông có khuyến nghị gì để các nghị quyết trong giai đoạn tới – nhất là trong lĩnh vực công nghệ và đổi mới sáng tạo – vừa bảo đảm tính đột phá, vừa khả thi?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Tôi xin nhấn mạnh 6 khuyến nghị.
Một là, mọi nghị quyết lớn phải đi kèm ngay một “gói thể chế hóa” có thời hạn rõ: luật nào sửa, nghị định nào ban hành, cơ quan nào chịu trách nhiệm, nguồn lực nào đi theo.
Hai là, phải thiết kế nghị quyết theo logic đầu ra thay vì chỉ theo logic nhiệm vụ; tức là mỗi mục tiêu chiến lược phải quy về chỉ tiêu, dữ liệu đo lường và cơ chế giám sát công khai.
Ba là, trong lĩnh vực công nghệ, phải mạnh dạn dùng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, đặt hàng công nghệ, mua sắm công đổi mới sáng tạo và hợp tác công-tư, thay vì chỉ trông vào quy trình mua sắm thông thường.
Bốn là, phải có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm khi họ hành động đúng thẩm quyền, đúng quy trình, vì nếu sợ sai lấn át tinh thần hành động thì mọi nghị quyết đều dễ chậm.
Năm là, phải ưu tiên các ca sử dụng có tác động lớn, làm mẫu thành công trước rồi nhân rộng, thay vì trải đều nguồn lực.
Sáu là, cần coi dữ liệu và hạ tầng số công cộng là tài sản chiến lược quốc gia, như tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW, 79-NQ/TW và 214/NQ-CP. Khi thể chế đi trước, doanh nghiệp được huy động đúng vai, dữ liệu được chuẩn hóa và trách nhiệm được cá thể hóa, nghị quyết sẽ không chỉ “đúng và trúng”, mà còn “đến được đích”.

Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.
Nhìn một cách hệ thống, chuỗi nghị quyết từ Nghị quyết 13 năm 1988 đến Đại hội XIV, Nghị quyết 57-NQ/TW, 59-NQ/TW, 68-NQ/TW, 70-NQ/TW, 79-NQ/TW và Nghị quyết 214/NQ-CP cho thấy một trục vận động rất rõ của tư duy phát triển ở Việt Nam: từ phá bao vây để tồn tại và phát triển, sang giải phóng các động lực thị trường, rồi tiến tới kiến tạo mô hình tăng trưởng mới dựa trên thể chế hiện đại, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và sự cộng hưởng giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Trọng tâm của giai đoạn hiện nay không còn là tranh luận có nên đổi mới hay không, mà là làm sao để đổi mới đi vào đời sống với tốc độ nhanh hơn, quy mô lớn hơn và hiệu quả đo được.
Đó cũng chính là thông điệp xuyên suốt mà Đại hội XIV và các nghị quyết trụ cột gửi tới toàn hệ thống: muốn đi nhanh trong kỷ nguyên mới, phải nâng cấp đồng thời cả tư duy, thể chế, năng lực thực thi và hạ tầng phát triển.











