Nghiên cứu cơ bản - Đột phá của đổi mới sáng tạo Việt Nam

Ông Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) cho rằng, nếu muốn có công nghệ thì phải có tri thức, muốn có tri thức thì phải có những nghiên cứu cơ bản xuất sắc. Nghiên cứu cơ bản chính là giai đoạn đầu tiên của chuỗi đổi mới sáng tạo quốc gia, nơi hình thành những ý tưởng, phát hiện và tri thức nền tảng để phát triển các công nghệ mới.

Mới đây, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã ban hành Quyết định số 2555/QĐ-BKHCN về Chương trình Phát triển nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026-2035 (PEBR). Chương trình hướng tới góp phần nâng cao vị thế khoa học của Việt Nam và tạo nền tảng tri thức trong dài hạn. Đồng thời, được kỳ vọng tạo ra bước chuyển từ đầu tư dàn trải sang đầu tư tập trung, dài hạn cho các nhóm nghiên cứu mạnh, qua đó hình thành các công nghệ lõi và sản phẩm chiến lược phục vụ năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nhắc đến chương trình, ông Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (NAFOSTED) nhìn nhận, sức mạnh KH&CN của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên hay lao động giá rẻ, mà nằm ở khả năng làm chủ công nghệ và chuyển hóa tri thức thành động lực phát triển.

Những thành tựu nổi bật của thế giới trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), điện tử hay công nghệ lượng tử đều bắt nguồn từ quá trình đầu tư bền bỉ cho nghiên cứu cơ bản trong nhiều năm. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN và ĐMST) trở thành động lực tăng trưởng mới, nghiên cứu cơ bản được xác định là nền móng của hệ sinh thái ĐMST quốc gia.

Sức mạnh của KH&CN nằm ở khả năng làm chủ công nghệ và chuyển hóa tri thức thành động lực phát triển.

Sức mạnh của KH&CN nằm ở khả năng làm chủ công nghệ và chuyển hóa tri thức thành động lực phát triển.

Theo mô hình được Bộ KH&CN xây dựng, nghiên cứu cơ bản xuất sắc là nền tảng tư duy của toàn bộ Chương trình, dựa trên nguyên tắc tôn trọng tự do học thuật và chấp nhận rủi ro khoa học hợp lý. Từ nền tảng này sẽ hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Điểm khác biệt lớn nhất của PEBR nằm ở "điểm nhấn" đầu tư. Trong nhiều năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học tại Việt Nam chủ yếu được triển khai dưới dạng các đề tài đơn lẻ, thời gian thực hiện ngắn và phân tán nguồn lực. Cách tiếp cận này giúp duy trì hoạt động nghiên cứu nhưng khó tạo ra những kết quả mang tính đột phá hoặc đủ sức cạnh tranh quốc tế. PEBR được thiết kế theo hướng chuyển từ tài trợ ngắn hạn sang đầu tư dài hạn, từ hỗ trợ các đề tài riêng lẻ sang phát triển chuỗi, cụm nhiệm vụ nghiên cứu có tính liên kết.

Thay vì cấp kinh phí theo từng năm, Chương trình áp dụng cơ chế đầu tư theo gói, tập trung và kéo dài từ 5 đến 10 năm. Các nhóm nghiên cứu được trao quyền tự chủ cao hơn trong sử dụng nguồn lực, đồng thời phải chịu trách nhiệm giải trình dựa trên kết quả đầu ra. Một thay đổi đáng chú ý khác là việc chấp nhận rủi ro khoa học. Theo cơ chế mới, thất bại trong nghiên cứu không mặc nhiên bị xem là sai phạm hành chính hay tài chính nếu quá trình thực hiện tuân thủ đúng quy định. Cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện cho các nhà khoa học mạnh dạn theo đuổi những hướng nghiên cứu mới, có tính đột phá nhưng tiềm ẩn rủi ro cao.

Bên cạnh đó, việc đánh giá các nhiệm vụ nghiên cứu cũng sẽ chuyển từ chú trọng quy trình sang tập trung vào chất lượng đầu ra và tác động thực tế. Các tiêu chí quốc tế như mức độ ảnh hưởng khoa học, năng lực hợp tác quốc tế hay khả năng tạo ra công nghệ mới sẽ được sử dụng trong quá trình đánh giá.

Ông Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

Ông Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

Về các chỉ tiêu cụ thể, đến năm 2030, Chương trình đặt mục tiêu hình thành khoảng 30 nhóm nghiên cứu mạnh trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, trong đó có ít nhất 3 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực; đến năm 2035 hình thành khoảng 50 nhóm nghiên cứu mạnh, trong đó có ít nhất 10 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực và có ảnh hưởng học thuật quốc tế rõ nét.

Chương trình cũng phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất một hướng nghiên cứu tiệm cận nhóm 5% thế giới về mức độ ảnh hưởng khoa học theo các chỉ số trích dẫn chuẩn hóa theo lĩnh vực; đến năm 2035 có ít nhất 3 hướng nghiên cứu tiệm cận nhóm này.

Lãnh đạo Quỹ NAFOSTED cho rằng, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản không phải là đầu tư cho kết quả của ngày hôm nay, mà là đầu tư cho năng lực cạnh tranh của quốc gia trong 10-20 năm tới. Mục tiêu cuối cùng của chương trình là xây dựng được những nhóm nghiên cứu xuất sắc có khả năng tạo ra không chỉ các công bố khoa học chất lượng cao mà còn các công nghệ chiến lược mang dấu ấn Việt Nam.

Khi đó, nghiên cứu cơ bản sẽ không chỉ dừng lại ở phòng thí nghiệm mà trở thành nền tảng để hình thành các ngành công nghiệp mới, nâng cao vị thế KH&CN của đất nước trên trường quốc tế.

Phạm Huyền

Nguồn CAND: https://cand.vn/nghien-cuu-co-ban-dot-pha-cua-doi-moi-sang-tao-viet-nam-post815873.html