Nghiên cứu miễn thuế TNDN 2-3 năm đầu phát sinh doanh thu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề xuất nghiên cứu miễn thuế TNDN 2-3 năm kể từ năm đầu tiên phát sinh doanh thu chịu thuế; đồng thời, không đặt ngưỡng quy mô làm rào cản hưởng ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng cùng điều kiện về ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn.

Kiến tạo môi trường thúc đẩy doanh nghiệp phát triển

Chiều 17/10, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Trình bày Tờ trình dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động hiện nay và có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội.

 Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn.

Về mục tiêu và định hướng xây dựng luật, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, việc đổi tên luật thể hiện sự chuyển đổi tư duy từ hỗ trợ đơn lẻ sang kiến tạo môi trường thuận lợi, từ chương trình do nhà nước cung cấp sang đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, từ chú trọng vào kinh phí đầu tư sang lấy kết quả và sự trưởng thành của doanh nghiệp làm thước đo. Dự thảo hướng tới xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp, trong đó nhà nước kiến tạo, định hướng và kết nối nguồn lực, huy động nguồn lực tài chính, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, hiệp hội, doanh nghiệp lớn và đơn vị cung cấp dịch vụ đồng hành, dẫn dắt doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng phát triển bền vững.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, dự thảo luật gồm 4 chương, 35 điều, tập trung vào 05 nhóm chính sách:

Thứ nhất, phát triển chung và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Cải thiện tiếp cận vốn, mặt bằng, công nghệ, thị trường; hỗ trợ tư vấn, đào tạo, kế toán, pháp lý; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, mua sắm công và nâng cao năng lực quản trị, nhân lực. Khuyến khích đa dạng hóa nguồn tài chính, đánh giá tín dụng theo dòng tiền, dữ liệu và khả năng tạo doanh thu không chỉ dựa vào tài sản bảo đảm, đồng thời giảm thủ tục, chi phí tuân thủ, đảm bảo minh bạch.

Thưa hai, phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thông qua kết nối với chuyên gia, vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo và đơn vị tư vấn. Trọng tâm là hoàn thiện sản phẩm, thương mại hóa, nghiên cứu tiếp cận nhà đầu tư và đưa công nghệ sản xuất, kinh doanh.

Thứ ba, phát triển doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh, nhất là doanh nghiệp một người bằng việc tạo thuận lợi chuyển đổi và hỗ trợ tư vấn, đào tạo, kế toán, pháp lý. Mục tiêu là nâng cao quản trị, đảm bảo tuân thủ, giúp doanh nghiệp hoạt động minh bạch, ổn định, tăng năng suất và mở rộng quy mô.

Thứ tư, phát triển doanh nghiệp kinh doanh bền vững, khuyến khích sử dụng hiệu quả tài nguyên, đổi mới quản trị, chuyển đổi số và đáp ứng yêu cầu môi trường, xã hội, quản trị. Dự thảo quan tâm doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động thuộc các nhóm này và doanh nghiệp ở vùng miền núi, biên giới, hải đảo.

Thứ năm, phát triển doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị và kinh doanh quốc tế, nâng cao năng lực sản xuất, quản trị, chất lượng sản phẩm, kết nối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI, nhà phân phối và đối tác quốc tế để mở rộng thị trường, tiếp cận công nghệ, tăng năng suất và giá trị trong nước.

Cân nhắc chính sách ưu đãi về thuế

Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban cho rằng tiêu chí chưa thực sự hợp lý, khó triển khai do biến động hàng năm, phụ thuộc số liệu năm trước, tổng nguồn vốn gồm cả nợ phải trả, chưa rõ cách xác định lĩnh vực của doanh nghiệp đang hoạt động.

 Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi.

“Đề nghị quy định nguyên tắc xác định ngành nghề kinh doanh chính, nghiên cứu dùng số liệu 2-3 năm liền kề, làm rõ căn cứ đánh giá tác động đến phạm vi thụ hưởng, khả năng cân đối nguồn lực khi nâng ngưỡng lao động từ 200 lên 300 người, tổng vốn từ 100 lên 150 tỷ đồng”, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi đề xuất.

Về nguyên tắc hỗ trợ, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí, đồng thời đề nghị làm rõ cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp không hỗ trợ trùng lặp, rà soát chế độ sở hữu tài sản hình thành từ kinh phí hỗ trợ, cơ chế thu hồi khi vi phạm cam kết, nghiên cứu chuyển tiếp hỗ trợ 2-3 năm khi doanh nghiệp vượt tiêu chí. Ngân sách Trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho địa phương tự cân đối được ngân sách.

Về phiếu hỗ trợ voucher, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi đề nghị làm rõ bản chất pháp lý, quy trình cấp, thanh toán gắn với kết quả kiểm chứng được, phòng ngừa trục lợi.

Về tiếp cận nguồn vốn, đề nghị rà soát, định giá xử lý tài sản bảo đảm, nhất là tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ, phân định hình thức cấp tín dụng, cấp vốn, tài trợ và chủ thể cung ứng không ảnh hưởng đến quyền tự chủ, an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng.

Về thuế và kiểm toán, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản tán thành chính sách ưu đãi miễn giảm thuế, nhưng một số quy định trùng lặp, chưa thống nhất với pháp luật chuyên ngành. Ủy ban đề nghị không quy định ưu đãi cụ thể về thuế TNDN tại luật này, nên chuyển toàn bộ nội dung tại khoản 3, điều 9, điểm c, khoản 8, điều 20, điều 33 sang luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật thuế TNDN, luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và luật thuế TNCN đang trình Quốc hội cũng tại kỳ họp này.

Về định hướng, bổ sung nguyên tắc doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng cùng điều kiện về ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn được hưởng ưu đãi không thấp hơn doanh nghiệp khác, không đặt ngưỡng quy mô làm rào cản. Nghiên cứu miễn thuế TNDN 2-3 năm từ năm đầu tiên phát sinh doanh thu chịu thuế, nhiều ý kiến đề nghị cân nhắc khoản 5 Điều 9 nếu chỉ dẫn chiếu quy định đã có sẵn.

Về sắp xếp các quỹ, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi đề nghị làm rõ căn cứ, tiêu chí phương án rà soát, sáp nhập hoặc giải thể quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và các quỹ bảo lãnh tín dụng, đánh giá nguyên nhân hoạt động chưa hiệu quả, xác định chủ thể kế thừa, xử lý quyền, nghĩa vụ tài sản người lao động, cam kết bảo lãnh không làm gián đoạn hỗ trợ.

Huyền Châu

Nguồn TCDN: https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/nghien-cuu-mien-thue-tndn-2-3-nam-dau-phat-sinh-doanh-thu-cho-doanh-nghiep-nho-va-vua-d70552.html