Một nguồn lực của mô hình phát triển mới

Trong một mô hình phát triển mới dựa ngày càng nhiều vào tri thức, đổi mới sáng tạo, công nghệ, chất lượng con người, văn hóa không thể chỉ đứng ở “hậu phương” của kinh tế. Văn hóa vừa tạo nên hệ giá trị, niềm tin, kỷ cương, khát vọng phát triển; vừa trực tiếp tạo ra sản phẩm, thị trường, việc làm, tài sản trí tuệ, sức mạnh mềm.

Chương trình nghệ thuật chính luận “Tổ Quốc Trong Tim” 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Chương trình nghệ thuật chính luận “Tổ Quốc Trong Tim” 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Trong một mô hình phát triển mới dựa ngày càng nhiều vào tri thức, đổi mới sáng tạo, công nghệ và chất lượng con người, văn hóa không thể chỉ đứng ở “hậu phương” của kinh tế. Văn hóa vừa tạo nên hệ giá trị, niềm tin, kỷ cương, khát vọng phát triển; vừa trực tiếp tạo ra sản phẩm, thị trường, việc làm, tài sản trí tuệ và sức mạnh mềm. Vấn đề lúc này là chuyển nguồn lực văn hóa dồi dào của đất nước thành năng lực sản xuất mới, năng lực cạnh tranh mới và chất lượng tăng trưởng mới.

Khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số và đồng thời xác lập yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, câu hỏi không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn bằng cách nào, mà còn là tăng trưởng dựa trên những nguồn lực nào và tạo ra một xã hội như thế nào.

Văn hóa vừa tạo ra tăng trưởng, vừa định hướng cho tăng trưởng

Nếu mô hình tăng trưởng trước đây dựa nhiều vào vốn, lao động, tài nguyên và mở rộng quy mô, thì mô hình phát triển mới phải dựa ngày càng nhiều hơn vào năng suất, tri thức, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, tài sản trí tuệ và chất lượng con người. Chính trong sự chuyển dịch ấy, văn hóa cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển theo nghĩa đầy đủ hơn.

Văn hóa, trước hết, tạo nên “phần mềm” của phát triển. Một nền kinh tế có thể có vốn, công nghệ và hạ tầng, nhưng nếu thiếu niềm tin xã hội, tinh thần hợp tác, đạo đức nghề nghiệp, ý thức thượng tôn pháp luật, khát vọng vươn lên và năng lực sáng tạo, thì các nguồn lực vật chất khó được chuyển hóa thành hiệu quả bền vững. Nguồn lực văn hóa vì thế không chỉ nằm trong di sản, lễ hội hay nghệ thuật, mà còn nằm trong cách một xã hội làm việc, giữ chữ tín, tôn trọng chuẩn mực, khuyến khích tài năng, nuôi dưỡng khát vọng cống hiến.

Ở một tầng khác, văn hóa ngày càng trở thành nguồn lực kinh tế trực tiếp. Điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, thời trang, quảng cáo, trò chơi điện tử, xuất bản, thủ công mỹ nghệ, nội dung số, du lịch văn hóa… đều có khả năng tạo doanh thu, việc làm, xuất khẩu và tài sản trí tuệ. Một di sản hay một biểu tượng văn hóa, nếu được sáng tạo, bảo hộ, tổ chức thị trường tốt, có thể đi qua nhiều vòng đời kinh tế từ nội dung, thiết kế đến du lịch và sản phẩm số.

Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu “phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia”. Cùng với đó là yêu cầu chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là trụ cột của phát triển; từ không gian văn hóa truyền thống sang cả không gian thực và không gian số; từ bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo.

Đó không phải là “kinh tế hóa” văn hóa một cách giản đơn. Tăng trưởng hai con số chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi đi cùng chất lượng sống tốt hơn, môi trường xã hội lành mạnh hơn, năng lực sáng tạo cao hơn và bản sắc quốc gia được củng cố hơn. Văn hóa vừa có thể tạo ra tăng trưởng, vừa định hướng cho tăng trưởng.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết phát biểu tại buổi làm việc với các cơ quan về phát huy vai trò của văn hóa đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, ngày 17/9. (Ảnh: ĐÔNG HÀ)

Đồng chí Trịnh Văn Quyết phát biểu tại buổi làm việc với các cơ quan về phát huy vai trò của văn hóa đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, ngày 17/9. (Ảnh: ĐÔNG HÀ)

Cuộc làm việc do Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết chủ trì chiều 17/9/2026 về phát huy vai trò của văn hóa trong đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã đặt vấn đề rất cụ thể: Không chỉ hỏi Nhà nước đầu tư bao nhiêu cho văn hóa, mà phải trả lời được văn hóa tạo ra bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế và xã hội. Đồng chí Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh: “Đảng đã chuyển từ khẳng định vị trí của văn hóa sang giao chỉ tiêu cho văn hóa”. Khi đã có chỉ tiêu, phải có lộ trình, sản phẩm, nguồn lực, chủ thể thực hiện và cơ chế chịu trách nhiệm.

Những số liệu mới nhất được nêu tại cuộc làm việc cho thấy, các ngành công nghiệp văn hóa hiện được ước tính đóng góp khoảng 5% GDP, với tốc độ tăng trưởng khoảng 7-8%/năm. Sáu lĩnh vực gồm điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử, du lịch văn hóa, quảng cáo và thủ công mỹ nghệ chiếm hơn 70% doanh thu công nghiệp văn hóa. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP và đến năm 2045 khoảng 9% GDP. Tuy nhiên, chúng ta chưa có đủ cơ sở dữ liệu và phương pháp thống kê thống nhất để xác định thật chính xác mức đóng góp hiện nay. Không đo được thì khó xác định đúng ưu tiên, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả chính sách.

Trình diễn áo dài trong Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội 2025. (Ảnh: KHIẾU MINH)

Trình diễn áo dài trong Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội 2025. (Ảnh: KHIẾU MINH)

Kho tài nguyên để tạo nên giá trị mới là rất lớn. Theo số liệu công bố tại Phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa tháng 7/2026, Việt Nam có hơn 40.000 di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh. Nhưng giá trị kinh tế-xã hội không tự động sinh ra chỉ vì chúng ta có nhiều di sản. Khoảng cách lớn nhất nằm ở năng lực chuyển hóa: Giúp di sản trở thành dữ liệu và tri thức; câu chuyện trở thành nội dung; chất liệu văn hóa trở thành tài sản trí tuệ; sáng tạo trở thành sản phẩm; sản phẩm trở thành thương hiệu và thị trường.

Du lịch là một minh chứng rõ về hiệu ứng lan tỏa. Tám tháng đầu năm 2026, Việt Nam đón 15,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,4% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch lữ hành đạt khoảng 68.700 tỷ đồng, tăng 17,1%. Phía sau sức hấp dẫn của một điểm đến không chỉ là khách sạn, phương tiện hay dịch vụ, mà còn là di sản, ẩm thực, lễ hội, kiến trúc, lối sống, nghệ thuật và câu chuyện cộng đồng.

Logic ấy cũng đúng với kinh tế số. Một tác phẩm âm nhạc, nhân vật hoạt hình, trò chơi, thiết kế hay câu chuyện dân gian được số hóa và phát triển thành tài sản trí tuệ có thể tiếp cận thị trường toàn cầu rất nhanh. Vì vậy, chuyển đổi số văn hóa không nên dừng ở việc quét, chụp và lưu trữ. Dữ liệu văn hóa phải được chuẩn hóa, kết nối, tái sử dụng, phục vụ giáo dục, nghiên cứu, du lịch, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo. Khi dữ liệu được tổ chức thành tri thức và tri thức được bảo hộ thành tài sản, văn hóa mới bước sâu vào chuỗi giá trị của mô hình phát triển mới.

Điều quan trọng là nhận diện đúng lợi thế thay vì dàn trải. Không phải địa phương nào cũng cần một mô hình giống nhau; không phải ngành nào cũng được ưu tiên như nhau. Chính sách cần đi từ lợi thế, thị trường, doanh nghiệp và sản phẩm cụ thể. Khi đó, tài nguyên văn hóa mới có thể trở thành tài sản phát triển chứ không chỉ là tiềm năng.

Kiến tạo hệ sinh thái để văn hóa trở thành sức sản xuất mới

Muốn văn hóa thật sự trở thành một nguồn lực của mô hình phát triển mới, điều cần nhất là một hệ sinh thái có khả năng chuyển hóa giá trị. Hệ sinh thái ấy phải kết nối thể chế, dữ liệu, tài chính, công nghệ, nhân lực, doanh nghiệp, thị trường và cộng đồng sáng tạo. Nhà nước không làm thay thị trường, mà giữ vai trò quan trọng hơn là kiến tạo luật chơi, bảo vệ quyền, đầu tư vào hạ tầng nền tảng, tạo không gian sáng tạo và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh.

Trước hết, phải sớm hoàn thiện hệ thống thống kê về văn hóa, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. GDP hay GRDP chỉ là một phần của bức tranh. Cần đo cả doanh thu, giá trị tăng thêm, việc làm, thu nhập, xuất khẩu, đóng góp ngân sách, bản quyền, tài sản trí tuệ và tác động lan tỏa sang du lịch, thương mại, đô thị, giáo dục, công nghệ. Với những giá trị không thể quy đổi trực tiếp thành tiền, cần có chỉ số về mức độ tham gia, khả năng tiếp cận, sức sáng tạo và sức lan tỏa của giá trị Việt Nam. Đo lường tốt không phải để thu hẹp văn hóa vào những con số, mà để nhìn rõ hơn giá trị của văn hóa.

Thứ hai, phải tạo bước đột phá về thể chế để tài sản văn hóa và tài sản sáng tạo có thể được định danh, bảo hộ, định giá, giao dịch và tạo ra dòng tiền. Khi một kịch bản phim, bản nhạc, thiết kế, bộ dữ liệu, trò chơi hay biểu tượng văn hóa trở thành tài sản trí tuệ thật sự, người sáng tạo mới có động lực đầu tư dài hạn, doanh nghiệp mới có cơ sở huy động vốn và thị trường mới hình thành chuỗi giá trị bền vững. Pháp luật về bản quyền, hoạt động nghệ thuật, công nghiệp văn hóa, dữ liệu và nền tảng số, vì thế, cần được đặt trong cùng một tư duy phát triển.

Thứ ba, cần thay đổi cách đầu tư cho văn hóa. Đầu tư công nên tập trung vào những hạ tầng mà thị trường khó tự làm: Dữ liệu văn hóa quốc gia, bảo tồn di sản cốt lõi, thiết chế công cộng, đào tạo nhân lực, hạ tầng số, không gian sáng tạo và các sản phẩm có giá trị dẫn dắt. Đồng thời, phải mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội thông qua hợp tác công-tư, quỹ đầu tư, tài trợ, ưu đãi thuế, tín dụng và các mô hình khai thác tài sản công minh bạch.

Một tiết mục nghệ thuật tại Lễ Khai mạc Liên hoan phim quốc tế Hà Nội (HANIFF) lần thứ VII. (Ảnh: KHIẾU MINH)

Một tiết mục nghệ thuật tại Lễ Khai mạc Liên hoan phim quốc tế Hà Nội (HANIFF) lần thứ VII. (Ảnh: KHIẾU MINH)

Thứ tư, phải đặt doanh nghiệp và người sáng tạo vào trung tâm. Chính họ giúp ý tưởng trở thành sản phẩm, sản phẩm trở thành thị trường và thị trường trở thành giá trị. Việt Nam cần những doanh nghiệp văn hóa đủ lớn để tổ chức chuỗi giá trị, doanh nghiệp công nghệ đủ mạnh để xây nền tảng phân phối, đồng thời, cần hệ sinh thái cho các studio, nhóm sáng tạo, nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà sản xuất độc lập và startup; cùng chính sách phát hiện, đào tạo, đãi ngộ và thu hút nhân lực sáng tạo.

Cuối cùng, phát triển kinh tế từ văn hóa phải luôn đi cùng bảo vệ giá trị văn hóa. Thương mại hóa bằng mọi giá có thể làm cạn kiệt tài nguyên, gây biến dạng di sản hoặc biến cộng đồng thành “phông nền” cho kinh doanh. Mô hình phát triển mới cần nguyên tắc khác: Giá trị kinh tế phải quay trở lại nuôi dưỡng giá trị văn hóa; cộng đồng sở hữu di sản phải được hưởng lợi; sáng tạo đi cùng trách nhiệm; thị trường đi cùng chuẩn mực; tăng trưởng làm giàu thêm bản sắc chứ không làm nghèo bản sắc.

Từ cuộc làm việc ngày 17/9 có thể thấy một yêu cầu ngày càng rõ: Đã đến lúc chuyển câu chuyện văn hóa từ nhận thức sang năng lực thực thi. Chúng ta đã nói nhiều về tiềm năng, bây giờ cần nói bằng sản phẩm, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ, thương hiệu, sức lan tỏa và những thay đổi thực chất trong đời sống. Một di sản không đơn thuần là ký ức, một tác phẩm không dừng lại ở biểu đạt, một lễ hội không chỉ là sự kiện; tất cả đều có thể trở thành nguồn lực sáng tạo cho tương lai.

Văn hóa, vì thế, không phải là phần việc đi sau tăng trưởng để “trang trí” cho phát triển. Văn hóa phải hiện diện ngay từ đầu trong cách chúng ta lựa chọn mục tiêu, thiết kế chính sách, tổ chức thị trường và xây dựng con người. Khi nguồn lực ấy được đánh thức bằng thể chế phù hợp, công nghệ hiện đại, thị trường năng động và những con người có khát vọng, văn hóa sẽ không chỉ đóng góp vào tăng trưởng hai con số, mà còn giúp định hình một mô hình phát triển Việt Nam nhanh hơn, bền vững hơn và giàu bản sắc hơn.

PGS, TS BÙI HOÀI SƠN Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/mot-nguon-luc-cua-mo-hinh-phat-trien-moi-post995898.html