Ngkuaiq-Nhịp cầu nối những trái tim Vân Kiều
Bao đời nay, người Vân Kiều vẫn ví ngkuaiq ễ rabữn (tiếng kèn môi) như nhịp đập thứ hai của một trái tim đang yêu. Nếu tiếng chiêng trống mang sắc thái náo nhiệt, đàn ta lư toát lên vẻ phóng khoáng của đại ngàn, thì kèn môi lại thu mình trong vẻ đẹp tinh tế với những âm hưởng nhẹ nhàng, sâu lắng. Tựa như một lời thủ thỉ tâm tình, tiếng kèn là 'sứ giả' của tuổi trẻ đang độ xuân thì. Thanh âm ấy len lỏi vào từng nhịp thở, dệt nên những chuyện tình son sắt, thủy chung nơi miền sơn cước.
Giai điệu từ hơi thở
Khởi nguồn của chiếc ngkuaiq (kèn môi) chính là những lá rừng mộc mạc. Thuở xưa, người Vân Kiều thường chọn những phiến lá tươi tắn, khéo léo kẹp lại để hơi thở rung lên thành những chuỗi âm trong trẻo. Tuy nhiên, dù mang vẻ đẹp thuần khiết của đại ngàn, loại nhạc cụ từ cỏ cây ấy vẫn có những hạn chế tự nhiên: Âm thanh nhỏ, khó chuyển tải hết nỗi lòng sâu kín, nhất là cánh lá dễ héo úa, không thể theo chân người đi cùng năm tháng. Từ đó, người Vân Kiều đã nghiên cứu chế tác kèn môi bằng tre, rồi dần dần cải tiến làm kèn môi bằng đồng hoặc bằng nhôm khi cuộc sống phát triển hơn.

Những chiếc kèn môi nhỏ bé nhưng lại là “sứ giả” của nhiều đôi lứa Vân Kiều - Ảnh: K.S
Chiếc kèn môi hiện đại có hình dáng thanh mảnh, thuôn dài, nhỏ bằng một ngón tay người lớn. Nhìn từ xa, nó giống như một cánh hoa hẹp hay một chiếc lá nhỏ bằng kim loại. Cấu tạo của chiếc kèn đơn giản nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ cao. Thân kèn (tỗ ngkuaiq) đóng vai trò là giá đỡ, được mài nhẵn để khi áp sát vào môi không gây đau. “Linh hồn” của nhạc cụ này chính là lưỡi kèn (liêh ngkuaiq), một lá nhôm cực mỏng nằm giữa thân. Một đầu lưỡi gắn chặt vào thân, đầu còn lại uốn cong thành hình móc câu để người chơi dùng ngón tay gẩy vào, tạo độ rung. Âm thanh trầm bổng, cao thấp hoàn toàn phụ thuộc vào cách điều khiển hơi thở và khẩu hình miệng của người chơi kèn. Vì thế, mỗi tiếng kèn cất lên đều mang đậm dấu ấn cá nhân, là tiếng lòng riêng biệt không lẫn vào đâu được.
Nghệ nhân ưu tú (NNƯT) Hồ Văn Dương ở thôn Ra Lây, xã Đakrông, người đã dành cả đời gắn bó với văn hóa dân tộc tâm sự: “Tôi đã dày công học cách chế tác kèn môi bằng chất liệu đồng và nhôm vì kèn dùng bền, âm thanh lại vang và trong hơn kèn lá, kèn tre”. Với ông, chiếc kèn không còn là vật vô tri mà là một phần máu thịt, là công cụ để ông “nói” thay cho những lời khó ngỏ.
Những bản tình ca giữa đại ngàn
Trong đời sống của người Vân Kiều, tiếng khèn môi chủ yếu được sử dụng để thổi theo làn điệu dân ca Ta oaiq. Đây là giai điệu của sự giao duyên, là ngôn ngữ của những chàng trai, cô gái trong những mùa "đi sim” tìm bạn tình. Khi màn đêm buông xuống trên bản làng, tiếng kèn môi rỉ rả vút lên như một lời mời gọi thiết tha. Nhờ tiếng kèn môi mà nhiều đôi lứa đã nên duyên chồng vợ. “Thời còn trai trẻ, với cây sáo, đàn môi luôn bên lưng, tôi đã thể hiện những bản nhạc nhiều cung bậc tình cảm, khiến đối phương phải mềm lòng. Tôi lấy được vợ xinh đẹp, đảm đang cũng nhờ vào những thanh âm tuyệt vời ấy”, NNƯT Hồ Văn Dương bồi hồi nhớ lại.

Nhờ tiếng kèn tình yêu, nhiều đôi trẻ người Vân Kiều đã nên duyên (minh họa) - Ảnh: K.S
Lời ca trong điệu Ta oaiq kết hợp với tiếng kèn môi thường rất mộc mạc nhưng giàu ẩn dụ. Như, người con gái thủ thỉ khi thấy bóng dáng chàng trai lấp ló bên hiên nhà sàn: “Thập thập thò thò hồn vía ơi/... Thân này giờ em đang thảnh thơi/Thân này em sẽ vui cùng anh”. Đáp lại lời mời gọi ấy, chàng trai dùng tiếng kèn để bày tỏ sự ngưỡng mộ và mong muốn được đón nhận: "Bỗng dưng anh đến hỡi người ơi/Mong em hãy bắc cầu thang qua/... Mong em đưa tay đón mời”. Cuộc đối thoại bằng âm nhạc ấy không chỉ có sự ngọt ngào mà còn đầy những thử thách về sự chân thành. Người con gái trong bài dân ca “Tình yêu đôi lứa” đã không ngần ngại đặt câu hỏi về lòng tin: “Chỉ sợ em không thật lòng mà thôi/Chỉ sợ sau này em thay lòng đổi dạ mà thôi/... Bây giờ nếu thật yêu anh hãy “bỏ của” làm tin”. Và khi cả hai đã tìm được tiếng nói chung, tiếng kèn môi trở nên rộn ràng hơn, khẳng định một sự gắn kết bền chặt: “Đã bằng lòng hai ta ăn cơm cùng mâm/Bây giờ hai ta cùng nhau về nhà”.
Lưu giữ “tiếng nhạc của mùa vui”
Dù mang trong mình giá trị tinh thần to lớn nhưng tiếng kèn môi và các nhạc cụ truyền thống của người Vân Kiều đang đứng trước nguy cơ mai một. Sự giao thoa văn hóa và phát triển của đời sống hiện đại khiến thế hệ trẻ dần xa rời những giá trị cũ. Vì lẽ đó, NNƯT Hồ Văn Dương vẫn không thôi trăn trở. Ông từng dùng tiếng kèn môi, khèn, sáo, đàn ta lư để động viên người dân trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước giữ vững tinh thần tăng gia sản xuất. Nay hòa bình, ông lại miệt mài chế tác kèn để xóa bỏ dần quan niệm lạc hậu xưa là người già không nên thổi kèn, tạo thói quen để con trẻ học và làm theo. Ông mong muốn có thêm những câu lạc bộ văn hóa dân gian để trao truyền lại “lửa” đam mê cho con cháu.
Tiếng kèn môi hòa quyện vào những bài hát mang tính giáo dục, nhắc nhở đôi lứa về lòng thủy chung, đừng bao giờ đến với nhau theo kiểu hời hợt: “Chỉ mong anh đến không nửa chừng/... Đừng nên chùn bước đi nửa vời”. Chính những giá trị nhân văn này đã giúp tiếng kèn môi không chỉ là một phương tiện giải trí đơn thuần mà trở thành sợi dây gìn giữ đạo đức và nếp sống của cộng đồng người Vân Kiều.
Tại thôn Ka Tăng, xã Lao Bảo, ông Hồ Văn Mươn là một trong số ít người biết chế tác và sử dụng kèn môi một cách thành thạo. Ông chia sẻ rằng kèn môi là một phần linh hồn của dân tộc Vân Kiều, nếu mất đi tiếng kèn là mất đi một phần bản sắc. Ông luôn sẵn sàng và mong muốn được truyền dạy lại cách làm kèn cho lớp trẻ, để tiếng kèn môi mãi trường tồn cùng núi rừng.
“Được ví như “tiếng nhạc của mùa vui”, kèn môi không chỉ kết duyên đôi lứa mà còn là sợi dây đoàn kết, thắp lên hy vọng về một bản làng văn minh. Giữa đại ngàn, những nghệ nhân như Hồ Văn Dương, Hồ Văn Mươn vẫn tỉ mẩn bên lưỡi kèn mỏng manh như một cách giữ lửa cho di sản. Mong rằng tâm huyết ấy sẽ mãi được tiếp nối, để khúc tự tình của người Vân Kiều sống mãi như một giai điệu không bao giờ tắt.











