Nguồn vốn dài hạn dẫn dắt tăng trưởng
Đối với các nhà đầu tư chuyên nghiệp, tính ổn định và sự minh bạch của khung pháp lý mới là 'thỏi nam châm' thực sự, chứ không chỉ là lợi nhuận kỳ vọng.

Nền móng cho khát vọng tăng trưởng
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã đặt ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2026-2030 trên 10%/năm. Để đạt được điều này, Nghị quyết chỉ ra 03 đột phá chiến lược, đó là hoàn thiện thể chế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông. Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết, để bảo đảm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, Chính phủ xác định tập trung đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng chiến lược hiện đại và đồng bộ. Các dự án trọng điểm bao gồm hệ thống giao thông trục quốc gia, đường sắt, sân bay quốc tế, cảng biển và hạ tầng năng lượng. Ngoài ra, các dự án liên kết vùng, hạ tầng đô thị lớn và hạ tầng phục vụ chuyển đổi số cũng được thúc đẩy triển khai.
Nhìn lại các giai đoạn trước, có thể thấy con đường phát triển của đất nước luôn song hành với việc mở rộng hạ tầng. Thời kỳ sau Đại hội VI của Đảng, các nhà máy thủy điện như Hòa Bình, Trị An, Ya Ly đã giải quyết tình trạng thiếu điện kéo dài, tạo bệ phóng cho công nghiệp nhẹ. Giai đoạn kế tiếp, các tuyến quốc lộ huyết mạch như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 5 và đường Hồ Chí Minh được nâng cấp, mở rộng, góp phần luân chuyển hàng hóa, kích thích sản xuất và kết nối vùng miền. Đến thời điểm sau Đại hội Đảng lần thứ X-XII, các dự án cao tốc đầu tiên và những cây cầu biểu tượng như Cần Thơ, Mỹ Thuận, Bãi Cháy đã mở ra không gian phát triển mới, đưa Việt Nam bước vào thời kỳ hạ tầng hiện đại.
Bước sang giai đoạn hiện nay, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông quốc gia có bước phát triển mạnh mẽ, đồng bộ hơn, nhiều dự án trọng điểm đã hoàn thành vượt tiến độ. Đến hết năm 2025, Việt Nam đã có 3.345 km tuyến chính cao tốc, đưa vào khai thác 1.701 km đường biển và 1.584 km đường quốc lộ. Tổng năng lực hệ thống cảng biển tăng 1,3 lần so với năm 2020. Tổng công suất các cảng hàng không tăng hơn 1,6 lần so với năm 2020… nhờ vậy đã góp phần giảm chi phí logistics từ 21% vào năm 2018 đến nay chỉ còn khoảng 17%, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Dù đạt được những kết quả ấn tượng, nhưng áp lực phía trước vẫn cực kỳ lớn, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết, nhu cầu vốn cho phát triển hạ tầng giai đoạn 2026 - 2030 ước tính tối thiểu khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 20%, tương đương hơn 7,7 triệu tỷ đồng, còn lại khoảng 80% - tương đương trên 30 triệu tỷ đồng phải huy động từ khu vực xã hội.
Rào cản lớn nhất đối với các nhà đầu tư không chỉ là số vốn lớn mà còn là độ trễ về thời gian. Các dự án hạ tầng thường có vòng đời hoàn vốn kéo dài 15-25 năm, chịu tác động mạnh bởi sự thay đổi quy hoạch và cơ chế chính sách. Doanh thu, thời gian hoàn vốn phụ thuộc vào các yếu tố vĩ mô như quy hoạch, mạng lưới giao thông kết nối, mức độ phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương. Đối với các nhà đầu tư chuyên nghiệp, tính ổn định và sự minh bạch của khung pháp lý mới là “thỏi nam châm” thực sự, chứ không chỉ là lợi nhuận kỳ vọng.
Để hóa giải những rào cản trên, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng cho rằng, trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ không còn nhiều, thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán, sẽ giữ vai trò then chốt trong việc cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Đây là nhiệm vụ rất lớn, nhiều thách thức nhưng cũng mở ra cơ hội đáng kể cho các nhà đầu tư, quỹ đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp.
Mạnh dạn với những mô hình đột phá
Cùng chung nhận định này, ông Ngọ Trường Nam, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư hạ tầng giao thông Đèo Cả (HHV) cho rằng, thị trường chứng khoán có lợi thế cung cấp nguồn vốn dài hạn, cho phép chia sẻ rủi ro và tối ưu cấu trúc tài chính, đồng thời mở rộng khả năng thu hút dòng vốn quốc tế. Cách tiếp cận này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả huy động vốn, mà còn phân tán rủi ro trong suốt vòng đời dự án, yếu tố đặc biệt quan trọng đối với các công trình hạ tầng có chu kỳ đầu tư kéo dài hàng chục năm. Đồng thời, PPP++ cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch, chuẩn hóa quản trị và chủ động hơn trước những biến động của thị trường tài chính. Việc tham gia thị trường chứng khoán không chỉ giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn trung, dài hạn mà còn tạo áp lực tích cực trong nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính và hiệu quả sử dụng vốn.
Chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn từ Ấn Độ, ông Trần Lê Minh, Tổng giám đốc VIS Rating cho biết, được sự hậu thuẫn của Chính phủ, các doanh nghiệp nước này đã phát hành nhiều trái phiếu hạ tầng bằng đồng nội tệ và bằng USD để xây dựng các dự án hạ tầng giao thông và năng lượng. Doanh nghiệp được giảm và miễn thuế khi đầu tư vào trái phiếu, dòng tiền từ dự án bảo đảm khả năng thanh toán ổn định và bảo lãnh một phần của Chính phủ giúp giảm rủi ro cho nhà đầu tư. Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi mô hình trên nếu có được khuôn khổ pháp lý và sự hỗ trợ phù hợp.
Bên cạnh đó, Việt Nam có thể xây dựng một khuôn khổ pháp lý riêng về phát hành trái phiếu hạ tầng, thể hiện rõ các điểm khác biệt để tạo nên sự hấp dẫn, nhất là đối với nhà đầu tư nước ngoài. Đây là điểm quan trọng để phát hành thành công trái phiếu hạ tầng khi các nhà đầu tư tổ chức trong nước (ngành bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí) có nhu cầu nhưng chưa đủ tiềm lực để hấp thụ toàn bộ lượng trái phiếu dài hạn cần phát hành, ông Trần Lê Minh đề xuất.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/nguon-von-dai-han-dan-dat-tang-truong-180030.html










