Nguyễn Du trong tầm nhìn thời đại
Trong di sản văn hóa Việt Nam, Nguyễn Du không chỉ là thi hào của nỗi thương đời mà còn là người nhìn thấu cơ chế lịch sử và cấu trúc xã hội phong kiến bất ổn, đặt ra những vấn đề cho tương lai, tạo nên chiều sâu tư tưởng hiện đại cho di sản của ông.
Khái quát hóa logic về sự bất ổn
Nguyễn Du sống và viết trong một thời đoạn giao tranh dữ dội: cuối Lê - đầu Nguyễn, khi các cấu trúc quyền lực rạn nứt, triều đại đổi thay, lòng người xao động. Bối cảnh ấy không chỉ tạo ra chất liệu bi kịch mà còn buộc người quan sát phải “đọc” cơ chế vận hành của quyền lực.

Hình tượng Nguyễn Du thời trẻ khi về sống tại Tiên Điền, được tái hiện trong phim "Đại thi hào Nguyễn Du". Ảnh: Thiên Vỹ
Trong bài thơ “Thăng Long, kỳ nhị” có câu thơ: “Thiên niên phú quý cung tranh đoạt” (phú quý ngàn năm luôn là sự đoạt lẫn nhau) và trong bài “Vị Hoàng doanh” có câu “Cổ kim vị kiến thiên niên quốc” (xưa nay chưa thấy triều đại nào tồn tại ngàn năm) đã cô đọng lại thành một nhận định gần như mang tính định đề: phú quý là đối tượng tranh đoạt chung của các phe phái quân phiệt, bởi thế, khó có triều đại nào đạt tới sự trường cửu.
Và, cái hay hơn là ở chỗ, Nguyễn Du không hề viện dẫn mệnh trời hay đạo lý chính thống của Nho học để giải thích sự thay ngôi đổi chủ, mà ông nhìn thẳng vào động lực cấu trúc: khi quyền lực thiết kế theo dòng họ, đất đai và quân đội, từ đó sẽ thiếu cơ chế kiểm soát và phân bổ lợi ích, bất ổn, xáo trộn là kết quả tất yếu.

Du khách chụp ảnh lưu niệm tại tượng đài Nguyễn Du trong khuôn viên di tích Đại thi hào (xã Tiên Điền). Ảnh: Thiên Vỹ
Chỉ 2 câu thơ ấy thôi nhưng tầm nhìn khác lạ ấy lại khiến thơ văn của ông có tính “giải mật” lịch sử: tẩy sạch sành sanh lớp mỹ từ về chính danh, trả quyền lực về bản chất giằng co của lợi ích. Đặt trong tư duy Nho học bấy giờ, cách nhìn này của Nguyễn Du rất táo bạo. Cụ thể: thay vì duy trì huyền thoại về sự thiêng liêng của vương quyền, ông đã đặt câu hỏi về tính bền vững của triều đại dưới lăng kính vận động xã hội khi quyền lực bị sử dụng méo mó. Chính điều đó làm cho ngôn từ của ông mang sức nặng tư tưởng: văn chương không chỉ than khóc cho thân phận, mà khái quát hóa được logic về sự bất ổn xã hội.
Bi kịch phận người và bản án đạo lý
Nếu 2 câu chữ Hán trên cho ta thấy tầm khái quát về quyền lực thì Truyện Kiều lại đưa tầm nhìn ấy vào đời sống thường nhật - nơi cơ chế xã hội chà đạp cá nhân. Để rồi, ông khái quát rằng “Đau đớn thay phận đàn bà” như tiếng thở dài, nhưng thật ra là mệnh đề đạo lý. Khi xã hội phong kiến đặt danh phận lên trên nhân phẩm, đồng thời thiết kế chuẩn mực để ràng buộc người phụ nữ trong hôn nhân, lao động và vị trí, khi đó, bất công không còn là hành vi của một vài cá nhân mà trở thành cấu trúc một cách có hệ thống sinh ra bất công đối với phận người, nhất là phụ nữ.


Tuyển tập Truyện Kiều được xuất bản qua các giai đoạn bằng nhiều ngôn ngữ và những bức tranh minh họa Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du. Ảnh: Thiên Vỹ
Nguyễn Du đã ngẫm về vấn đề này với sự kết hợp của lòng trắc ẩn và trăn trở trước hiện tình xã hội đương thời. Ông biết rằng, những giá trị đã và đang được tôn sùng như: hiếu - trung - tiết - nghĩa khi đặt vào đời sống, lại có thể chuyển hóa thành xiềng xích gìm chặt lấy con người, tạo ra bất công và ngang trái. Nàng Kiều trong lựa chọn bất khả giữa hiếu và tình, đã lộ ra mặt trái của đạo lý khi thiếu cơ chế bảo vệ “quyền và lợi ích cá nhân”. Chính vì vậy, Truyện Kiều không chỉ là tác phẩm đỉnh cao của văn chương, mà còn là bản mô tả tinh vi về cách một hệ chuẩn mực có thể hợp thức hóa nỗi đau con người.
Nghịch lý và di sản mở
Đặt Nguyễn Du vào tầm nhìn thời đại, ta thấy rõ ràng nghịch lý: ông nhìn ra căn bệnh của phong kiến là chu kỳ tranh đoạt quyền lực, vương triều hữu hạn và bất công về giới tính, nhưng lại không thể vẽ ra một mô hình thay thế chúng theo kiểu hiện đại như hiện nay (cộng hòa, dân chủ, bình đẳng). Nhưng, đây không phải là hạn chế cá nhân, mà là giới hạn lịch sử.

Con cháu họ Nguyễn Tiên Điền và cán bộ Vụ Bảo tồn, Bảo tàng khảo sát tại đền thờ Nguyễn Nghiễm giai đoạn xây dựng hồ sơ xếp hạng di tích năm 1960-1962. Ảnh tư liệu.
Những tư tưởng chính trị nền tảng của thời cận hiện đại (hiến pháp, tam quyền phân lập, quyền công dân, pháp trị) chưa tồn tại như nguồn tri thức sẵn có trong không gian Á Đông và nền văn minh Nho học khi ông đang sinh sống. Các tiền đề KT-XH (đô thị hóa, giai tầng công thương, định chế pháp lý) cũng chưa hội tụ đủ. Vì vậy, vị trí của Nguyễn Du là vị trí của một nhà luân lý và nhân bản, bởi ông tố cáo bất công, ghi nhận đau khổ, kêu gọi lòng trắc ẩn, nhưng lại không có “đường cách mạng” thể chế, để đề xuất ngay trong thời đại mình đang sống.
Chính ở đây, câu “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” trở thành kết luận bi tráng: thấy nhiều, hiểu sâu, mà lực bất tòng tâm. Tuy nhiên, nghịch lý ấy lại mở ra sức sống dài lâu cho di sản của ông. Tư tưởng “triều đại không thể ngàn năm” nhắc ta rằng, mọi quyền lực đều cần giới hạn, kiểm soát và những thiết kế thể chế phải đặt con người ở trung tâm.


Ngày nay, di sản Nguyễn Du và Truyện Kiều đang được gìn giữ, nghiên cứu và phát huy trong bối cảnh mới.
Lời “đau đớn thay phận đàn bà” tạo điểm tựa để nuôi dưỡng các ý tưởng cải cách về luật hôn nhân, lao động và bình đẳng. Truyện Kiều, như một trường hợp mẫu mực, chứng minh văn chương có thể làm công việc của triết học và xã hội học: biến xúc động thành tiêu chuẩn phê bình, biến đau khổ thành nhận thức.
Nhìn Nguyễn Du trong tầm nhìn thời đại, ta thấy một tư duy đã vượt khỏi thời mình. Ông soi rọi vào cốt lõi của quyền lực và phận người, để hậu thế có thể đặt ra những câu hỏi đúng và chọn những câu trả lời tốt hơn. Đó là vai trò của người “mở mắt” cho xã hội: dùng nghệ thuật để khai trí, để từ “thương người” đi tới “bảo vệ người”, từ nhấn mạnh “bi kịch” đi tới “cải cách”. Di sản ấy khiến Nguyễn Du không chỉ là bóng dáng của quá khứ, mà là người đồng hành trí tuệ trong mọi cuộc đối thoại về quyền lực, công lý và nhân phẩm hôm nay cũng như mai sau.
Nguồn Hà Tĩnh: https://baohatinh.vn/nguyen-du-trong-tam-nhin-thoi-dai-post305877.html











