Nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số phải gắn với bản sắc văn hóa và kiến trúc truyền thống

Chiều 21.8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023.

Giá nhà ở xã hội cần phù hợp khả năng chi trả

Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Phan Thị Thúy Linh (Đoàn ĐBQH thành phố Đà Nẵng) tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Nhà ở. Theo đại biểu, lần đầu tiên nhà cho thuê được xác định là một loại hình nhà ở độc lập và có một chương riêng, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 21.

Theo đại biểu Phan Thị Thúy Linh, tại các hội nghị đối thoại với công nhân, người lao động, vấn đề nhà ở luôn là nội dung nóng, được quan tâm nhiều nhất. Từ thực tế này, đại biểu kiến nghị 4 nhóm vấn đề.

Thứ nhất, đại biểu đề nghị luật hóa thời hạn và cơ chế xét duyệt hồ sơ nhà ở xã hội. Thời gian qua, nhiều ý kiến phản ánh quy trình xét duyệt hồ sơ, chứng minh thu nhập còn phức tạp, kéo dài hàng năm.

Vì vậy, đại biểu đề nghị quy định cụ thể thời hạn xét duyệt trong luật. Cùng với đó, khi số lượng hồ sơ vượt số căn hộ, việc xét duyệt cần dựa trên các tiêu chí ưu tiên công khai, thay vì chỉ dựa vào hình thức bốc thăm.

Đại biểu Phan Thị Thúy Linh phát biểu

Đại biểu Phan Thị Thúy Linh phát biểu

Thứ hai, đại biểu đề nghị xem xét lại giá thuê và giá bán nhà ở xã hội theo hướng sát hơn với khả năng chi trả của người lao động.

Theo đại biểu, thu nhập bình quân của người lao động hiện nay khoảng 9 triệu đồng/tháng, nhiều địa phương chỉ khoảng 6-8 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, một căn nhà ở xã hội khoảng 50m2 mở bán đầu năm nay đã có giá trên 1 tỉ đồng, tương đương khoảng 10 năm thu nhập. Tiền thuê mỗi tháng khoảng 5 triệu đồng theo công thức tính hiện nay cũng là mức cao đối với người lao động.

Dự thảo đưa ra 4 công thức tính giá thuê tại các Điều 37, 43, 49 và 69, nhưng đều xuất phát từ chi phí đầu tư, chưa dựa trên khả năng chi trả của người dân.

Theo đại biểu, Nghị quyết 21 yêu cầu phát triển nhà ở cho thuê với giá phù hợp, do đó chính sách cần hướng tới khả năng chi trả thực tế của người dân.

Thứ ba, về nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp, đại biểu Phan Thị Thúy Linh cho rằng, Khoản 1 Điều 45 dự thảo quy định quỹ đất nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp chỉ được bố trí trong phần đất thương mại dịch vụ. Điều 47 giao doanh nghiệp hạ tầng lập quy hoạch, đầu tư hạ tầng rồi mới cho doanh nghiệp sản xuất thuê đất.

Trong khi đó, tại Khoản 1 Điều 41, nhà lưu trú ngoài khu công nghiệp lại được tính trên cả đất sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Như vậy, cùng là công trình phục vụ người lao động nhưng nhà lưu trú trong khu công nghiệp lại chịu quy định chặt chẽ hơn so với ngoài khu công nghiệp.

Đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung đất sản xuất kinh doanh vào Khoản 1 Điều 45, đồng thời cho phép doanh nghiệp sản xuất được trực tiếp đầu tư nhà lưu trú trong khuôn viên nhà máy trên đất thuê thêm. Bên cạnh đó, cần bổ sung chính sách khuyến khích mạnh hơn tại Điều 48.

Thứ tư, đại biểu đề nghị cho phép thực hiện hình thức thuê mua đối với các dự án bằng nguồn tài chính công đoàn.

Theo Khoản 2 Điều 32, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là cơ quan chủ quản dự án nhà ở bằng nguồn tài chính công đoàn nhưng chỉ để cho thuê.

Đại biểu cho rằng tài chính công đoàn không phải ngân sách nhà nước mà là nguồn đóng góp của người sử dụng lao động và đoàn viên nhằm chăm lo cho người lao động. Vì vậy, nguồn lực này cần được vận hành như một quỹ có khả năng tái tạo, thay vì chỉ giới hạn ở hình thức cho thuê.

Nếu chỉ cho thuê, thời gian hoàn vốn từ 15-25 năm, gần như không có vòng quay thứ hai. Việc bổ sung hình thức thuê mua sẽ rút ngắn thời gian thu hồi vốn để tiếp tục đầu tư các dự án mới, qua đó tạo thêm cơ hội để công nhân có chỗ ở ổn định.

Theo đại biểu, đề xuất này cũng phù hợp với Kết luận 24 của Bộ Chính trị về việc mở rộng đối tượng mua, thuê mua nhà ở xã hội.

Nhà ở của đồng bào không chỉ là nơi che mưa che nắng mà còn là không gian văn hóa 

Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Sí Thị Mai Anh (Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai) bày tỏ trăn trở trước khó khăn về nhà ở của đồng bào dân tộc thiểu số và người dân vùng sâu, vùng xa.

Về phát triển nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số gắn với bản sắc văn hóa và kiến trúc truyền thống, đại biểu cho biết Điểm e Khoản 2 Điều 6 dự thảo đã có quy định về nội dung này.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cụ thể hóa ngay tại Điểm d Khoản 1 Điều 6 về thiết kế mẫu, thiết kế điển hình theo hướng lồng ghép bản sắc văn hóa của từng dân tộc, từng vùng miền.

"Nhà ở của đồng bào không chỉ là nơi che mưa che nắng mà còn là không gian văn hóa gắn với tập quán nhà sàn, bếp lửa, không gian sinh hoạt cộng đồng”, đại biểu bày tỏ.

Đại biểu Sí Thị Mai Anh phát biểu

Đại biểu Sí Thị Mai Anh phát biểu

Đối với chỗ ở của học sinh dân tộc thiểu số, đại biểu Sí Thị Mai Anh cho rằng cần quan tâm đến cả những nhóm học sinh ngoài đối tượng đang được quy định.

Về nhà ở công vụ vùng biên giới, hải đảo tại Điểm 5 Khoản 5 Điều 55, đại biểu đánh giá cao quy định miễn thuế, tiền thuê nhà công vụ cho cán bộ, công chức, viên chức được điều động đến vùng sâu, vùng xa.

Tuy nhiên, theo đại biểu, để chính sách đi vào thực chất, vấn đề không chỉ là miễn tiền thuê mà trước hết phải bảo đảm có nhà để ở.

“Nhiều giáo viên, y bác sĩ vùng cao vẫn đang ở nhà mượn, nhà thuê không đảm bảo điều kiện tối thiểu. Đề nghị luật quy định rõ trách nhiệm ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng các dãy nhà công vụ kiên cố”, đại biểu đề nghị.

XUÂN TRƯỜNG; ảnh: TRẦN HUẤN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/chinh-tri/nha-o-cho-dong-bao-dan-toc-thieu-so-phai-gan-voi-ban-sac-van-hoa-va-kien-truc-truyen-thong-258007.html