Nhận diện những điểm nghẽn trong phát triển khu công nghiệp
Hiện nay, một số khu công nghiệp trên địa bàn Thủ đô vẫn có những doanh nghiệp hoạt động trong các nhóm ngành tiềm ẩn 'công nghệ thấp – phát thải cao'. Nguyên nhân được là do trước đây, mục tiêu lấp đầy đất công nghiệp và tạo công ăn việc làm cho người lao động thường được đặt cao hơn mục tiêu lấp đầy bằng công nghệ và giá trị….

Ảnh minh họa.
Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp TP. Hà Nội vừa tổ chức Hội thảo về chuyển đổi số các khu công nghiệp theo mô hình sinh thái – công nghệ cao. Hoạt động này nhằm nhìn lại thực trạng vận hành, đồng thời, định hướng nâng cao chất lượng phát triển các khu công nghiệp trong thời gian tới.
NHIỀU DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG NHÓM NGÀNH TIỀM ẨN PHÁT THẢI CAO
Phát biểu tại sự kiện, Phó trưởng Ban quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp TP. Hà Nội Trần Anh Tuấn cho biết tính đến tháng 2/2026, đơn vị đang trực tiếp quản lý 2 khu công nghệ cao, 1 khu công viên công nghệ thông tin; 24 khu công nghiệp, trong đó, 9 khu công nghiệp đang hoạt động, 5 khu công nghiệp đã thành lập và có nhà đầu tư hạ tầng, 10 khu công nghiệp đang được lập quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000.
Hiện nay, toàn thành phố ghi nhận 999 dự án còn hiệu lực. Riêng Khu công nghệ cao Hòa Lạc có 115 dự án, các khu công nghiệp còn lại là 884 dự án. Tổng số lượng chuyên gia, người lao động trong khu công nghệ cao và khu công nghiệp ước khoảng 200.000 người, với 1.350 người là lao động nước ngoài.
Tuy nhiên, theo ông Tuấn, bên cạnh những đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô, Ban Quản lý cũng nhận diện rõ những tồn tại hạn chế. Cụ thể, một số khu công nghiệp đang có không ít doanh nghiệp hoạt động trong các nhóm ngành tiềm ẩn “công nghệ thấp – phát thải cao”, chiếm khoảng 29,6%. Nguyên nhân là do trước đây, mục tiêu lấp đầy đất công nghiệp và tạo công ăn việc làm cho người lao động thường được đặt cao hơn mục tiêu lấp đầy bằng công nghệ và giá trị, dẫn tới ngưỡng sàng lọc dự án chưa đủ cao và thiếu cơ chế buộc nâng cấp theo chu kỳ.
Hơn nữa, công cụ kiểm soát sau đầu tư, sau cấp phép còn yếu; điều kiện gia hạn đất, điều kiện tiếp tục hoạt động của cơ sở phát thải cao, quy trình kiểm tra – xử lý thiếu tính liên thông và tính răn đe. Đáng chú ý, hạ tầng môi trường của một số khu công nghiệp hình thành sớm, nhất là các khu công nghiệp nâng cấp từ cụm công nghiệp thường thiết kế theo chuẩn cũ, nhưng yêu cầu mới về quan trắc, xử lý đạt chuẩn lại ngày càng chặt chẽ. Ngoài ra, chuyển đổi số trong quản trị khu cũng chưa đồng đều, thiếu dữ liệu vận hành theo thời gian thực, dẫn tới xử lý thường chậm một nhịp so với thực tế.
Theo Phó Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài (Bộ Tài Chính) Vương Thị Minh Hiếu, các thị trường quốc tế đang thiết lập “luật chơi” mới mang tính bắt buộc, điển hình là tiêu chuẩn về môi trường - xã hội - quản trị (ESG) khắt khe từ các chuỗi cung ứng đa quốc gia và cam kết quốc gia về mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero). Từ đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống các khu công nghiệp phải khẩn trương dịch chuyển từ mô hình đa ngành truyền thống sang mô hình khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp đô thị - dịch vụ và khu công nghiệp thông minh ứng dụng dữ liệu lớn.
CHUYỂN ĐỔI LÀ TẤT YẾU
Ông Lê Thanh Sơn, Phó trưởng Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp Thành phố Hà Nội, cho rằng từ chỉ đạo của Thành ủy, UBND Thành phố, Hà Nội rất quyết tâm chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu. Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp thành phố đang tập trung thực hiện “làm sạch danh mục dự án - lập lại kỷ cương công nghệ, môi trường và hiện trường”, coi đây như một yêu cầu quản trị bắt buộc; kết quả được đo đếm bằng KPI, cập nhật và kiểm tra theo mốc, để năm 2026 tạo nên những chuyển biến có thể thấy được.
Lãnh đạo Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp Thành phố Hà Nội đã nhấn mạnh quan điểm Hà Nội không thể cạnh tranh theo cách “đất rẻ - lao động rẻ”. Thực tế, giá thuê đất công nghiệp của Thủ đô cao hơn nhiều địa phương lân cận, nếu vẫn thu hút bằng dự án gia công công nghệ thấp thì vừa khó thu hút, vừa khóa chặt quỹ đất vào mô hình tăng trưởng cũ, kéo theo hệ lụy môi trường và an sinh.
“Việc chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu sang mô hình khu công nghiệp thế hệ mới không còn là một lựa chọn, mà là yêu cầu tất yếu. Vì vậy, quan điểm đặt ra là phải tái cấu trúc các khu công nghiệp không chỉ như các không gian sản xuất đơn thuần, mà trở thành một bộ phận hữu cơ trong cấu trúc phát triển đô thị mới của Thủ đô, gắn với các trung tâm đổi mới sáng tạo, các cực tăng trưởng, các hành lang kinh tế và hệ sinh thái công nghệ – tri thức”, ông Sơn nêu rõ.
Cụ thể hóa các quan điểm trên, Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp Thành phố Hà Nội cũng xây dựng chi tiết kế hoạch hành động và rõ sản phẩm đầu ra. Đặc biệt, Bộ tiêu chí chuyển đổi khu công nghiệp theo hướng xanh – thông minh - sinh thái, với những nhóm tiêu chí toàn diện từ quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật - số, môi trường, năng lượng, cơ cấu ngành nghề, kinh tế tuần hoàn, đến hạ tầng xã hội và quản trị, bước đầu được xây dựng. Đây vừa là công cụ đánh giá, vừa là “bộ lọc”, giúp sàng lọc dự án đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích và thúc đẩy phát triển bền vững.
Tuy nhiên, lãnh đạo Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp Thành phố Hà Nội bày tỏ mong muốn được tham vấn bài học kinh nghiệm, để đề xuất cơ chế, chính sách đột phá, nhất là cơ chế “làn xanh”, cơ chế huy động nguồn lực xã hội, mô hình hợp tác công tư, cũng như những giải pháp sàng lọc, nâng cấp hoặc thay thế các dự án công nghệ thấp, phát thải cao. Mục tiêu hướng tới là xây dựng hệ thống các giải pháp phát triển hệ sinh thái đồng bộ, bao gồm: hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng xã hội, nhà ở, dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của các khu công nghiệp trong dài hạn.
Liên quan đến nội dung này, TS. Nguyễn Trâm Anh, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài Chính) đánh giá việc chuyển đổi các khu công nghiệp sang mô hình sinh thái và đô thị dịch vụ không còn là một khái niệm xa vời trên giấy tờ. Thực tế, từ những thành công thực tế, Việt Nam đang từng bước định hình một thế hệ khu công nghệ mới: Thông minh hơn, bền vững hơn và gắn liền với giá trị nhân văn.











