Nhân Lễ hội Vì Hòa bình 2026: Ký ức về một vùng đất lửa

Không hiểu từ đâu và vì sao, tôi rất ấn tượng với tên gọi Khe Sanh.

Tác giả Huỳnh Dũng Nhân tại cầu Hiền Lương.

Tác giả Huỳnh Dũng Nhân tại cầu Hiền Lương.

Có lẽ từ cái việc Mỹ tập trung quân thành một cứ điểm lớn bất khả xâm phạm để từ đó chiếm giữ và xâm lấn toàn bộ khu vực miền Trung và cao nguyên, có cái gì đó giông giống như thời quân Pháp lập cứ điểm Điện Biên Phủ trên Tây Bắc 72 năm trước.

Ấn tượng thứ hai có lẽ từ việc tôi thường xuyên nhận vẽ bản đồ (1973-1975) cho báo Miền Nam Việt Nam chiến đấu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) mà ba tôi là Tổng Biên tập. Tôi thuộc lòng hai chữ Khe Sanh từ đó. Mỗi khi vẽ bản đồ, vẽ những mũi tên xuyên thẳng vào cứ điểm Khe Sanh, tôi cứ có cảm giác nhói nhói trong tim, biết đằng sau những mũi tên ấy là bao xương máu của quân dân chúng ta.

Thế hệ tôi đi bộ đội sau những ngày “Mùa hè đỏ lửa” hai năm. Đọc tin về những đơn vị tân binh sinh viên anh dũng chiến đấu và hy sinh ở Khe Sanh, Thạch Hãn, Thành cổ mà nghẹn ngào từng trang giấy, nét bút…

Ba tôi thuộc tổ thư ký báo chí của Chủ tịch MTDTGPMNVN Nguyễn Hữu Thọ nên có mặt ở Cam Lộ Quảng Trị từ 1973 và liên tục viết thư nhắc tới các địa danh đầy mùi thuốc súng của Quảng Trị.

Huỳnh Dũng Nhân và bố - nhà báo lão thành Huỳnh Hùng Lý.

Huỳnh Dũng Nhân và bố - nhà báo lão thành Huỳnh Hùng Lý.

Mọi kỷ niệm với Quảng trị của gia đình tôi đã lan tỏa đến cá nhân tôi.

Trong năm 2024-2025, tôi đã thực hiện 5 chuyến điQuảng Trị, trong đó có hai chuyến đi đặc biệt mang đậm tính chất "trả ơn lịch sử". Tại Quảng Trị - mảnh đất từng nhuộm lửa đỏ trong mùa hè khốc liệt năm xưa, tôi đã trao tặng một bức ảnh quý - hình ảnh hai người lính thuộc hai chiến tuyến cùng gác cầu Hiền Lương, được chính tay ba tôi lànhà báo Huỳnh Hùng Lý ghi lại năm 1957 khi là phóng viên thường trú báo Nhân Dân tại Vĩnh Linh. Các báo Nhân Dân, báo Quảng Trị, Đài Truyền hình Quảng Trị đã thực hiện các phim tư liệu về câu chuyện này.

Tôi nhớ, lần đầu tiên tôi đến Khe Sanh là khi đã trở thành nhà báo, tôi được nhà văn Võ Quê đưa đi. Anh Võ Quê về Khe Sanh như về nhà. Anh giới thiệu mọi câu chuyện về Khe Sanh còn hơn cả một hướng dẫn viên du lịch. Trở về tôi viết phóng sự “Trở lại DMZ”. Một chi tiết trong bài mà tôi nhớ mãi là chiến trường Khe Sanh ác liệt dữ dội với một chảo lửa hứng chịu bom đạn ngày đêm như thế, mà vài năm sau giải phóng, đất đai đã đỏ au, quang đãng, cây cối xanh tốt. Và tôi cũng không hiểu bằng cách nào mà người ta có thể dọn sạch hàng ngàn tấn xác xe pháo bom đạn trên mặt đất như thế. Đến khi phong trào du lịch về nguồn trỗi lên, người ta phải nhặt nhạnh, mua bán, tặng nhau từng vỏ đạn, bật lửa, các vật dụng quân trang của lính Mỹ xưa kia…

Sau này tôi có đi Quảng Trị nhiều lần nữa và nhận thấy Quảng Trị đã vươn lên thay đổi mạnh mẽ hiên ngang nhờ biết xây dựng cuộc sống mới từ mảnh đất đau thương năm nào. Ở nơi mà cổng nghĩa trang cũng hình ngôi sao, đến cát trắng thờ cúng cũng vơi đi khan hiếm, đến mọi tên phố tên người đều có hai chữ Hòa Bình, mỗi ngày lễ và ngày Thương binh - Liệt sĩ thì Đông Hà không bao giờ đủ khách sạn cho các đoàn và các gia đình thân nhân liệt sĩ về thăm viếng.

Ở một nơi như thế,ký ức cũng trở thành giá trị. Bên cạnh du lịch tâm linh đã có thêm nhiều loại hình du lịch khác mà người Quảng Trị rất biết khai thác, tôn vinh, như ngay cả những giọt cà-phê Khe Sanh bây giờ.

Tôi may mắn có khá nhiều bạn bè, đồng nghiệp, học trò… ở Quảng Trị. Tình người Quảng Trị cũng là một “đặc sản” khiến ai đã đến đây đều trở nên thân thiết gắn bó như người thân. Chính những gương mặt bạn bè ấy đã làm tôithêm yêu Quảng Trị. Trong những người con Quảng Trị ấy, có lẽ người gắn kết và giúp đỡ tôi nhiều nhất là nhà báo Trương Đức Minh Tứ, Tỉnh ủy viên, nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo, Tổng biên tập báo Quảng Trị. Đã mấy lần tôi về Quảng Trị công tác, anh đều đích thân vào sân bay Phú Bài đưa đón tôi rất chu đáo. Tôi đã đọc tặng anh Trương Đức Minh Tứ mấy câu thơ: “Bến Hải chim câu bay nối hai miền/Đảo Cồn Cỏ bây giờ không xa nữa/Nếu có yêu nhau xin hẹn về Quảng Trị/Trồng những đóa hồng bên cạnh những nén nhang…” (HDN).

Người dân miền Trung nói chung và Quảng Trị nói riêng là thế, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng vượt qua được khó khăn, vươn lên đầy kiêu hãnh.

Quảng Trị bây giờ là của mọi người dân Việt Nam.

Nói xa hơn một chút, riêng tư hơn một chút, thì gia đình tôi cũng còn có kỷ niệm khá đặc biệt. Đó là hai cha con đã cùng viết bài về hai chuyến đi thăm Việt Nam của lãnh tụ huyền thoại Fidel. Lần đầu Fidel sang thăm Quảng Trị (1973) khi còn chiến tranh. Ba tôi đang ở vùng giải phóng Quảng Trị đã có mặt viết bài và hiện còn giữ khá nhiều tấm hình Fidel quàng khăn rằn thăm các chiến sĩ giải phóng. Sau ngày thống nhất, Fidel trở lại Việt Nam thăm TPHCM, đến Củ Chi (1995). Lúc này tôi đã trở thành phóng viên báo Lao Động và được cử đi viết bài về chuyến đi thăm của Fidel. Gần đây, tôi ra Quảng Trị công tác mấy lần, tôi đã đến thăm di tích khu làm việc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, thăm những nơi Chủ tịch Fidel Castro đã đặt chân đến, và tiếp tục viết bài về câu chuyện bức tranh Chủ tịch Fidel Castro, kỷ vật gia đình tôi…

Tôi yêu Quảng Trị đến nỗi viết rất nhiều bài báo và thơ về vùng đất này: “Đến Bến Hải tôi ngẩng chào Hiền Lương/Câu hò xưa đứa trẻ nào cũng thuộc/Số 17 thành vĩ tuyến ngăn cách/17 tuổi bạn tôi đi mãi không về/Quảng Trị gió Lào hạ đến nhanh thế kia/Thành cổ cháy những nén nhang ngùn ngụt/Chiến sĩ - sinh viên bom vùi bao mơ ước/Cuốn sổ máu nhòe: “Xin chào Mẹ, con đi...”... “Thạch Hãn nghẹn dòng trận đánh năm xưa/Đạn dược hết và lương khô cũng cạn/Bơi qua sông dưới mưa bom bão đạn/Sông thành nghĩa trang, xin hãy nhẹ mái chèo…”.

Để rồi bây giờ, Quảng Trị Khe Sanh Thành Cổ trở thành một địa danh sáng chói trong những trang sử đấu tranh giữ nước của Việt Nam.

Mỗi khi tôi đi Quảng Trị, các đồng nghiệp ở Quảng Trị hay tặng tôi cà-phê Khe Sanh. Tôi hiểu, đâu chỉ là giống, là hạt cà-phê, mà còn là tấm lòng của con người Quảng Trị, là hương thơm ngát, vị đậm đà của những hạt cà-phê kết tinh từ cái nắng miền Trung, cái chịu thương chịu khó của người dân quanh năm cực khổ gió Lào cát trắng, cái dư âm tự hào và đau thương của vùng đất mang tên Khe Sanh đầy chứng tích đạn bom, xương máu, mà người dân Việt Nam không ai được phép quên.

Vì thế hôm nay trên vùng đất Quảng Trị chịu rất nhiều đau thương mất mát ấy có rất nhiều màu cờ đỏ và hình ảnh cánh chim hòa bình.

Khi tôi viết những dòng chữ này, thì trong đầu tôi lại hiện lên những gương mặt thân thương của các đồng nghiệp báo chí văn chương như Minh Tứ, Ngọc Sỹ, Minh Tự, Lê Đức Dục, Lâm Chí Công, Lâm Hạnh, Lê Trường, Cẩm Trúc, Nguyễn Hoàn, Linh Giang, Đăng Bình, Trương Nguyên Việt (con trai danh ca Tân Nhân với bài hát nổi tiếng Câu hò bên bến Hiền Lương)… Hay bạn bè mới quen (Chi Đàm Truyền Uyên Ly - Chi nhánh HDbank tại Quảng Trị) học trò cũ như Trần Thu (Bí thư Tỉnh đoàn Quảng Trị) và Phương Thảo… Phạm Bích Ngọc (HĐND tỉnh Quảng Trị) Trần Hiếu Minh (PV Báo Nhân Dân tại Quảng Trị…

Như vậy, nếu tính từ thế hệ của ba tôi là nhà báo Huỳnh Hùng Lý, thì cho đến nay gia đình tôi đã gắn bó với ba thế hệ người làm báo ở mảnh đất Quảng Trị anh hùng này…

Huỳnh Dũng Nhân

Nguồn CAĐN: https://cadn.com.vn/nhan-le-hoi-vi-hoa-binh-2026-ky-uc-ve-mot-vung-dat-lua-post344157.html