Nhiều bệnh lý nguy hiểm về mắt bị phát hiện muộn

Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu người mù và thị lực kém, trong đó 1/3 là người nghèo khó tiếp cận điều trị, dù hơn 80% nguyên nhân gây mù có thể phòng, chữa được. Những con số này cho thấy chăm sóc mắt không chỉ là vấn đề chuyên khoa, mà còn là thách thức y tế công cộng, nhất là khi nhiều bệnh lý nguy hiểm vẫn được phát hiện muộn, làm giảm hiệu quả điều trị và ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng sống của người bệnh.

Thăm khám thị lực cho trẻ nhỏ tại Bệnh viện Bạch Mai (ĐT)

Thăm khám thị lực cho trẻ nhỏ tại Bệnh viện Bạch Mai (ĐT)

Tại Hội nghị triển khai kế hoạch hoạt động phòng, chống mù lòa năm 2026 do Bệnh viện Mắt Hà Nội vừa tổ chức, TS. Nguyễn Đình Hưng - Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội nhìn nhận, dù công tác phòng, chống mù lòa đã đạt được nhiều kết quả tích cực, những khó khăn vẫn còn rất rõ. Tỷ lệ người dân tiếp cận dịch vụ chăm sóc mắt chuyên sâu chưa đồng đều giữa các khu vực; nguồn nhân lực chuyên ngành nhãn khoa tại tuyến cơ sở còn hạn chế; nhiều bệnh lý mắt nguy hiểm vẫn được phát hiện muộn, gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Thực tế này phản ánh một nghịch lý kéo dài trong chăm sóc mắt, nhiều bệnh có thể phòng tránh, có thể điều trị hiệu quả nếu phát hiện sớm, nhưng người bệnh lại thường đến cơ sở y tế khi thị lực đã suy giảm rõ rệt. Với các bệnh như đục thủy tinh thể, glôcôm, bệnh võng mạc đái tháo đường, tật khúc xạ học đường hay một số bệnh lý mắt ở trẻ em, việc chậm phát hiện có thể làm mất đi cơ hội can thiệp kịp thời. Khi đó, điều trị không chỉ khó hơn, tốn kém hơn, mà khả năng phục hồi thị lực cũng bị hạn chế.

Theo PGS.TS Phạm Ngọc Đông, Giám đốc Bệnh viện Mắt Trung ương, các nguyên nhân gây mù chính hiện nay qua điều tra cho thấy đục thủy tinh thể vẫn là nguyên nhân chủ yếu, chiếm tới 66,1%, tiếp đó là các bệnh lý đáy mắt, glôcôm, tật khúc xạ. Đáng chú ý, cùng với sự phát triển của công nghệ nhãn khoa, các bệnh lý về mắt được phát hiện ngày càng đa dạng, phức tạp hơn, trong đó có nhiều bệnh ở trẻ em như chấn thương mắt, tật khúc xạ, nhược thị, u võng mạc, lác mắt, sụp mi, đục thủy tinh thể bẩm sinh, bệnh võng mạc trẻ sinh non.

Ở người cao tuổi, đục thủy tinh thể vẫn là nguyên nhân quan trọng gây suy giảm thị lực. Đây là bệnh có thể điều trị bằng phẫu thuật, nhưng nếu người bệnh không được khám, không được tư vấn hoặc không có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế, thị lực suy giảm kéo dài sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, khả năng lao động, sự độc lập và chất lượng sống. Với người nghèo, người ở vùng khó khăn, rào cản không chỉ là chi phí điều trị, mà còn là khoảng cách địa lý, thiếu thông tin và tâm lý chấp nhận suy giảm thị lực như một phần tất yếu của tuổi già.

Trong khi đó, glôcôm là bệnh lý nguy hiểm vì có thể tiến triển âm thầm. Người bệnh nhiều khi không nhận ra thị lực bị tổn hại cho đến khi vùng nhìn đã thu hẹp đáng kể. Nếu phát hiện muộn, tổn thương thần kinh thị giác thường không thể phục hồi. Đây là lý do công tác khám sàng lọc, phát hiện sớm và quản lý định kỳ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là với nhóm nguy cơ cao.

Một thách thức khác đang ngày càng nổi lên là biến chứng mắt ở người mắc đái tháo đường. Báo cáo tại Hội nghị triển khai kế hoạch phòng, chống mù lòa của Hà Nội cho biết thành phố hiện có khoảng 500.000 người mắc đái tháo đường và 1.400.000 người tiền đái tháo đường. Đây là nhóm có nguy cơ cao đối mặt với các biến chứng về mắt gây suy giảm thị lực nghiêm trọng nếu không được tầm soát kịp thời.

Bệnh võng mạc đái tháo đường là ví dụ điển hình cho nguy cơ phát hiện muộn. Ở giai đoạn đầu, người bệnh có thể chưa thấy triệu chứng rõ ràng, vẫn sinh hoạt bình thường nên dễ bỏ qua việc khám mắt định kỳ. Khi thị lực mờ đi, xuất hiện xuất huyết, phù hoàng điểm hoặc tổn thương võng mạc nặng, điều trị trở nên phức tạp hơn nhiều. Vì vậy, quản lý bệnh đái tháo đường không thể chỉ dừng ở đường huyết, mà phải bao gồm tầm soát các biến chứng mắt theo định kỳ.

Đối với trẻ em và học sinh, tật khúc xạ học đường cũng đang là vấn đề đáng lo ngại. PGS.TS Phạm Ngọc Đông cho biết tật khúc xạ như cận thị, viễn thị, loạn thị ngày càng phổ biến trong thanh thiếu niên, với tỷ lệ mắc khoảng 20% học sinh ở nông thôn và khoảng 40% ở đô thị. Một số khảo sát tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh còn ghi nhận tỷ lệ trẻ mắc tật khúc xạ cao hơn nhiều tại một số nhóm học sinh. Nếu tính riêng nhóm trẻ từ 6 đến 15 tuổi, cả nước ước tính có khoảng 3 triệu em mắc tật khúc xạ cần chỉnh kính, trong đó khoảng 2/3 là cận thị.

Với trẻ em, phát hiện muộn tật khúc xạ không chỉ ảnh hưởng đến thị lực, mà còn tác động trực tiếp đến học tập, phát triển thể chất, tâm lý và khả năng hòa nhập. Một trẻ nhìn mờ nhưng không được khám và chỉnh kính kịp thời có thể học kém hơn, ngại tham gia hoạt động, thậm chí bị nhược thị nếu tình trạng kéo dài ở giai đoạn phát triển thị giác. Trong khi đó, khám và cấp kính cho trẻ mắc tật khúc xạ lại là một trong những biện pháp can thiệp có chi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao trong giảm tỷ lệ mù lòa.

Những vấn đề trên cho thấy phòng, chống mù lòa không thể chỉ trông chờ vào điều trị chuyên sâu ở tuyến cuối. Muốn giảm tỷ lệ mù lòa có thể phòng tránh được, hệ thống chăm sóc mắt phải đi xuống cộng đồng, đến trường học, đến tuyến y tế cơ sở và đến các nhóm dân cư có nguy cơ cao. Chăm sóc mắt cần được nhìn như một phần thiết yếu của chăm sóc sức khỏe toàn diện. Người cao tuổi cần được khám định kỳ để phát hiện đục thủy tinh thể, glôcôm và các bệnh đáy mắt. Người mắc đái tháo đường cần được tầm soát võng mạc thường xuyên. Trẻ em cần được kiểm tra thị lực tại trường học và chỉnh kính đúng lúc. Người dân, nhất là ở vùng khó khăn, cần được truyền thông để không coi suy giảm thị lực là điều phải chấp nhận.

Đức Trân

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/nhieu-benh-ly-nguy-hiem-ve-mat-bi-phat-hien-muon.html